TÀI LIỆU VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN

Thứ hai - 16/05/2016 20:38
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TÀI LIỆU VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN; ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP; KỶ LUẬT VÀ THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐOÀN; CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
I. KHÁI NIỆM KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
1. Kiểm tra, giám sát:
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng năm 2002) và Từ điển Luật học (NXB Từ điển bách khoa năm 1999), thì:
- Kiểm tra: là hoạt động xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
- Giám sát: là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh.
2. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn:
Điều lệ Đoàn và hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn khóa X quy định: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đoàn. Tổ chức đoàn phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đoàn, đoàn viên và cán bộ đoàn chịu sự kiểm tra, giám sát của Đoàn”.
Như vậy, kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong công tác lãnh chỉ đạo của Đoàn, đồng thời là một mặt công tác Đoàn, do cấp bộ Đoàn chỉ đạo và tổ chức thực hiện cùng với các mặt công tác khác như: công tác tổ chức, công tác giáo dục, công tác thiếu nhi,...
2.1 Công tác kiểm tra của Đoàn: Là hoạt động xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét việc chấp hành nguyên tắc tổ chức, Điều lệ Đoàn, thi hành kỷ luật Đoàn và việc triển khai tổ chức thực hiện những chủ trương, nghị quyết của cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn.
2.2 Công tác giám sát của Đoàn:
Là việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Ủy ban kiểm tra và các cơ quan  của cấp bộ Đoàn theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cấp bộ Đoàn, tổ chức Đoàn cấp dưới, chi đoàn và cán bộ Đoàn, đoàn viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Điều lệ, các nghị quyết, các quy định, quyết định của Đoàn, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ Đoàn, đoàn viên theo quy định của Đoàn. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra vi phạm ngay từ lúc manh nha xuất hiện, giúp cho đối tượng được giám sát thực hiện đúng Điều lệ, nghị quyết, quy định, quyết định của Đoàn, chức trách, nhiệm vụ được giao và các quy định về phẩm chất, đạo đức, lối sống.
2.3 Sự giống và khác nhau giữa kiểm tra và giám sát
* Sự giống nhau:
- Đều là hoạt động của Đoàn, do Ban Chấp hành Đoàn lãnh đạo, chỉ đạo, được Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Ủy ban kiểm tra và các cơ quan của Đoàn thực hiện.
- Nội dung: đều là việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chủ trương, quy định của Đoàn; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ Đoàn, đoàn viên.
- Đối tượng: tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên chịu sự kiểm tra, giám sát.
- Mục đích: nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức Đoàn và công tác xây dựng Đoàn vững mạnh.
- Giám sát và kiểm tra có mối quan hệ khăng khít với nhau; muốn thực hiện tốt việc giám sát thì phải có theo dõi, xem xét thực tế của đối tượng được giám sát; muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện việc giám sát.
* Sự khác nhau:
- Về mục đích:
+ Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới manh nha. Giám sát giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phản ánh, đề xuất; giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính. Qua giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì mới tiến hành kiểm tra.
+ Kiểm tra để làm rõ đúng, sai. Sau khi kiểm tra phải kết luận và xử lý. Có thể có vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc đã qua nhiều năm mới kiểm tra để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm (nếu có) để xử lý.
- Về đối tượng:
+ Trong hoạt động kiểm tra, đoàn viên, cán bộ, cấp bộ Đoàn vừa là đối tượng kiểm tra vừa là chủ thể tự kiểm tra.
+ Trong hoạt động giám sát, đoàn viên, cán bộ, các cấp bộ Đoàn chỉ là đối tượng giám sát và chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được tổ chức Đoàn có thẩm quyền phân công giám sát một đối tượng khác.
- Về phương pháp và hình thức:
+ Giám sát không theo quy trình thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật mà chỉ thông qua theo dõi, quan sát để phát hiện vấn đề, phản ánh với tổ chức và cá nhân có thẩm quyền nhằm kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa khuyết điểm (nếu có), tránh để xảy ra vi phạm; trong quá trình giám sát, đa phần các tổ chức, cá nhân chịu giám sát vẫn hoạt động, sinh hoạt bình thường.
- Kiểm tra bắt buộc phải tiến hành theo quy trình, thành lập tổ hoặc đoàn kiểm tra; coi trọng các biện pháp nghiệp vụ để thẩm tra, xác minh; sau kiểm tra có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kỷ luật tổ chức, cá nhân vi phạm; trong quá trình kiểm tra, theo quy trình tổ chức hoặc người có thẩm quyền có thể yêu cầu hoặc ra quyết định đình chỉ hoạt động, sinh hoạt Đoàn của tổ chức, cá nhân bị kiểm tra để tạo điều kiện cho việc xác minh làm rõ.
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
1. Kiểm tra, giám sát là một tất yếu trong quá trình xây dựng Đoàn và tổ chức các hoạt động của Đoàn.
Kiểm tra, giám sát xuyên suốt trong mọi hoạt động của con người trong xã hội. Nó trở thành một đòi hỏi không thể thiếu trong cuộc sống và hoạt động của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, loài người, kiểm tra, giám sát cũng ngày càng phát triển, không ngừng đáp ứng yêu cầu hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới, cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Từ ban đầu là hoạt động có tính bản năng của từng con người cá thể, kiểm tra, giám sát dần phát triển thành hành động của các tổ chức trong xã hội với những hình thức, phương pháp, quy mô, cấp độ phong phú và đa dạng.
Do nhu cầu của con người, tổ chức được hình thành một cách tự giác, theo những nguyên tắc, điều lệ quy định nhất định, nhằm thực hiện những mục tiêu, mục đích nhất định. Tổ chức do con người lập ra, yếu tố cấu thành và quyết định sự phát triển của của tổ chức là con người. Tổ chức chính là sự biểu hiện cụ thể của các mối quan hệ của con người; vừa là chủ thể quy định của con người, điều khiển hành vi con người. Nói kiểm tra, giám sát là thể hiện nghiêm túc hoạt động có ý thức của con người thì đồng thời cũng có nghĩa là nói kiểm tra, giám sát là hoạt động có ý thức hết sức nghiêm túc của tổ chức. Nếu đối với một con người, kiểm tra, giám sát có tác dụng giúp cho con người đó khắc phục được thiếu sót, sơ hở trong thực hiện ý tưởng, mục đích của mình thì đối với tổ chức, kiểm tra, giám sát càng có tác dụng to lớn hơn. Hiệu quả và sức mạnh của kiểm tra, giám sát tiến hành trong tổ chức sẽ được nhân lên gấp bội so với tiến hành ở từng con người riêng lẻ. Vì vậy, mọi tổ chức đều coi kiểm tra, giám sát là một biện pháp hiệu nghiệm để thực hiện mục đích của mình.
 Công tác kiểm tra, giám sát là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội. Ý thức càng cao, tổ chức càng chặt chẽ thì càng phải làm tốt công tác kiểm tra, giám sát. Nhiệm vụ càng nặng nề, phức tạp thì càng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Xác định rõ công tác kiểm tra, giám sát trước hết là trách nhiệm của người lãnh đạo, của cấp bộ Đoàn, phải gắn công tác kiểm tra, giám sát với công tác chỉ đạo, điều hành thường xuyên.
Nhận thức rõ công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn không chỉ là nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra các cấp, hoạt động kiểm tra, giám sát không là “bới lông tìm vết” hoặc chỉ xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn vi phạm mà công tác kiểm tra, giám sát phải giúp người lãnh đạo phát hiện những thiếu sót, lệch lạc trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết và phong trào thanh niên; phát hiện những nhân tố, điển hình mới trong hoạt động thực tiễn phong trào; tham mưu cho cấp bộ Đoàn và người lãnh đạo những vấn đề điều chỉnh cho hiệu quả và phù hợp với phong trào, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của tuổi trẻ.
Công tác kiểm tra, giám sát giữ cho Điều lệ Đoàn, kỷ cương của tổ chức Đoàn được thực hiện nghiêm minh, góp phần xây dựng tổ chức Đoàn ngày càng vững mạnh đồng thời góp phần bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đoàn viên để không ngừng tiến bộ, rèn luyện cán bộ, đoàn viên để không ngừng tiến bộ, thực hiện tốt nhiệm vụ của người cán bộ Đoàn, đoàn viên, chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
 Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực về thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng hàng hóa chất lượng phục vụ người tiêu dùng,.. thì mặt trái của cơ chế thị trường tác động không nhỏ đến cán bộ, đoàn viên thanh niên. Vì vậy, hình thức sinh hoạt, hoạt động đặc biệt là đối với sinh hoạt, hoạt động của cơ sở Đoàn cần phải đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thanh niên. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn do đó cũng cần phải được đổi mới. Nhìn chung, trong bối cảnh mới, các cấp bộ Đoàn, cán bộ, đoàn viên đều nhận thức được những yêu cầu cần phải đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn. Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ Đoàn chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của cán bộ kiểm tra, của Ủy ban kiểm tra, chưa gắn công tác kiểm tra, giám sát với công tác lãnh, chỉ đạo.Việc chỉ đạo công tác kiểm tra chủ yếu hướng về đánh giá phong trào thanh niên trên các lĩnh vực, đối tượng cụ thể, chưa gắn bó việc tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sát với việc nâng cao chất lượng sinh hoạt hoạt động của chi đoàn của cơ sở Đoàn,... Từ đó, về mặt lý luận có thể khẳng định công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn là một tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
2. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo, chỉ đạo của Đoàn, là bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đoàn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi, song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự còn phải tổ chức, phải đấu tranh. Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách là nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu 3 điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”.
Từ thực tiễn của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng”, “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Những luận điểm trên khẳng định, công tác kiểm tra, giám sát gắn liền với sự lãnh đạo, không chỉ là xây dựng chiến lược, đường lối phương hướng, chương trình mà còn phải kiểm tra ngay cả bản thân chiến lược, đường lối, phương hướng, chương trình đó. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu”Đổi mới, nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát”, “Nâng cao hiệu quả công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và tư tưởng”. Đặc biệt, trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X nêu rõ: “Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên;.....”
Là nơi tập hợp đội ngũ của những người cộng sản trẻ tuổi, sức mạnh của Đoàn là sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tổ chức và hành động; là sự chặt chẽ, nghiêm minh trong thực thi những nguyên tắc tổ chức và hoạt động mà tổ chức Đoàn đặt ra. Thực tiễn cho thấy, những thành tựu cũng như khuyết điểm, yếu kém của công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong những nhiệm kỳ gần đây cũng đặt ra nhiều vấn đề cần chỉ đạo giải quyết: công tác cán bộ, công tác đoàn viên, chất lượng sinh hoạt, hoạt động của các cơ sở Đoàn, đánh giá đúng chất lượng và hiệu quả các hoạt động xã hội, phong trào thanh thiếu nhi,.. Những vấn đề đó, đòi hỏi tổ chức Đoàn cần không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường sự lãnh chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp, trong đó, đặc biệt đối với công tác xây dựng tổ chức Đoàn. Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp bộ Đoàn và đội ngũ cán bộ Đoàn về công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường việc xây dựng và chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát của các cấp bộ Đoàn; quan tâm xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ và đầu tư cơ sở vật chất, phục vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn”.
III. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
1. Mục đích:
- Đảm bảo Điều lệ, kỷ cương của tổ chức Đoàn được thực hiện nghiêm minh; nghị quyết, chủ trương công tác của Đoàn được triển khai thống nhất và hiệu quả.
- Góp phần bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đoàn viên không ngừng tiến bộ, chấp hành nghiêm Điều lệ Đoàn, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Phát hiện những mô hình mới, điển hình tiên tiến, những việc làm tốt để nhân rộng. Đồng thời, chấn chỉnh, uốn nắn những lệch lạc, những biểu hiện tiêu cực, ngăn ngừa và hạn chế sai phạm nảy sinh.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để giúp các cấp bộ Đoàn đề ra được các chủ trương công tác mới hoặc hoàn chỉnh các chủ trương công tác đã ban hành cho phù hợp.
2. Yêu cầu:
* Nắm vững tính mục đích, tính chủ động, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đoàn.
Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh là nhiệm vụ chính trị của các cấp bộ Đoàn. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn phải lấy đó làm mục tiêu, phương hướng, nội dung hoạt động. Nếu không xác định đúng công tác kiểm tra, giám sát sẽ mất phương hướng và trở thành công tác nghiệp vụ đơn thuần.
Các cấp bộ Đoàn, Ủy ban kiểm tra các cấp của Đoàn và cán bộ kiểm tra phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức của Đoàn; nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững chỉ thị, nghị quyết của Đoàn các cấp, từ đó xây dựng kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát trong từng thời kỳ cho phù hợp.
* Quán triệt tính chiến đấu, tính giáo dục, thuyết phục của Đoàn:
 Kiểm tra, giám sát phải kết hợp biện chứng giữa xây với chống. Với tính chất của tổ chức Đoàn thì biện pháp xây dựng con người, xây dựng tổ chức chính là mục tiêu chính của công tác kiểm tra, giám sát. Vì vậy, trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, các cấp bộ Đoàn, Ủy ban kiểm tra các cấp của Đoàn cần quán triệt một số điểm sau:
- Thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của tổ chức Đoàn, hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn, những ưu điểm, nhược điểm, trong hoạt động Đoàn ở từng địa bàn, lĩnh vực, trong mỗi cán bộ, đoàn viên để kịp thời cổ vũ những nhân tố tích cực, ngăn chặn, giáo dục, xử lý những biểu hiện tiêu cực.
- Đối với những cán bộ, đoàn viên mắc sai lầm, khuyết điểm phải xem xét, xử lý đúng mục đích, phương châm, nguyên tắc, thủ tục theo quy định của Điều lệ Đoàn và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn. Tránh tình trạng xử lý kỷ luật kéo dài, không khách quan hoặc không đúng, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân, đoàn viên, thanh niên.
- Khi xem xét kỷ luật, giải quyết đơn thư khiếu tố phải căn cứ vào sinh hoạt phê bình và tự phê bình trong tổ chức Đoàn để làm rõ đúng sai, nguyên nhân, tính chất, mức độ vi phạm. Phê bình và tự phê bình phải xuất phát từ mục đích xây dựng Đoàn với phương pháp chân thành, thẳng thắn, nghiêm túc, độ lượng, đảm bảo tính chiến đấu, tính giáo dục có tính thuyết phục. Phải xác định rõ trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn để có phương hướng phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.
Sau mỗi hoạt động giám sát, kiểm tra, mỗi lần xử lý kỷ luật phải rút ra những bài học bổ ích về thực hiện nhiệm vụ chính trị, về giáo dục, quản lý cán bộ, đoàn viên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác, nhằm ngăn ngừa tái phạm sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đoàn viên.
* Nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn:
 Kế thừa và phát huy tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của Đảng, từ thực tiễn công tác kiểm tra và công tác xây dựng tổ chức Đoàn trong những năm qua. Tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn là “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”. Nội dung tư tưởng chỉ đạo của công tác kiểm tra, giám sát có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau và được thể hiện cụ thể qua các vấn đề chủ yếu sau:
- Tính chủ động được thể hiện: Sau khi có nghị quyết, chủ trương, kế hoạch phải tổ chức thực hiện xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức, thực hiện các chương trình, chủ trương, nghị quyết đó. Công tác kiểm tra, giám sát (nhất là giám sát) phải được tiến hành một cách thường xuyên, có nề nếp để chủ động, kịp thời, uốn nắn, điều chỉnh, đôn đốc nhắc nhở việc tổ chức thực hiện cụ thể, hiệu quả, đảm bảo mục đích, mục tiêu, nội dung, yêu cầu công tác; không thụ động để xảy ra biến cố, vụ việc rồi mới xem xét, giải quyết. Phải thường xuyên nắm vững tình hình hoạt động, năng lực tổ chức của tổ chức Đoàn cấp dưới và cán bộ, đoàn viên, luôn coi trọng yếu tố tự kiểm tra của cán bộ, đoàn viên và tổ chức cơ sở Đoàn. Trong kiểm tra, giám sát phải kịp thời động viên, cổ vũ mặt tích cực, tiến bộ, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục mặt tiêu cực, lạc hậu nhằm chủ động, hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm. Khi phát hiện tổ chức, cán bộ, đoàn viên có dấu hiệu vi phạm, phải tiến hành kiểm tra để xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời không để khuyết điểm phát triển thành vi phạm, từ không nghiêm trọng thành nghiêm trọng, từ một cán bộ, đoàn viên, một tổ chức đoàn vị phạm thành nhiều cán bộ, đoàn viên, tổ chức đoàn vi phạm.
- Tính chiến đấu của công tác kiểm tra, giám sát được thể hiện ở tinh thần đấu tranh, làm rõ đúng, sai trong quá trình tiến hành kiểm tra. Nếu có vi phạm thì làm rõ nội dung mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm để bảo vệ cái đúng, cái tốt, khắc phục cái sai, cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt giữa cái đúng - mặt tích cực với cái sai - mặt tiêu cực trong bản thân đối tượng được kiểm tra, giữa chủ thể tiến hành kiểm tra với đối tượng được kiểm tra, giữa cán bộ đoàn viên với nhau, giữa cán bộ đoàn viên với tổ chức đoàn, giữa tổ chức đoàn có thẩm quyền thi hành kỷ luật với đối tượng bị thi hành kỷ luật và ngay cả với chính bản thân cán bộ và tổ chức tiến hành kiểm tra. Không có tính chiến đấu cao, không có bản lĩnh vững vàng, không có phương pháp thích hợp hoặc bị khuất phục, bị chi phối bởi uy quyền, vật chất, bởi chủ nghĩa cá nhân thì không kết luận được đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) khi tiến hành kiểm tra.
- Tính giáo dục của công tác kiểm tra của Đoàn được thể hiện ở mục đích là: “Thúc đẩy và giáo dục cán bộ, đoàn viên làm tròn nhiệm vụ đối với Đoàn, đối với Đảng, làm gương tốt cho thanh niên, chứ không phải để vạch lá tìm sâu”, để “trừng trị”; được thể hiện ở phương hướng tiến hành kiểm tra là phải phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên trong quá trình kiểm tra, cũng như trong phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Qua kiểm tra phải rút ra được các bài học về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đoàn để bồi dưỡng, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên.
- Tính hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát được thể hiện: Sau các đợt kiểm tra, giám sát thì đối tượng được kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của mình để sửa chữa, phấn đấu tiến bộ, không hiểu sai, hiểu lệch mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát, không bi quan, chán nản, xa rời tổ chức, xa rời tập thể, mặc cảm. Hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát còn được thể hiện ở việc tổ chức Đoàn nơi có đối tượng được kiểm tra và bản thân tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, khuyết điểm, rút ra bài học kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về quản lý, giáo dục cán bộ, đoàn viên, về lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát để xây dựng Đoàn vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của tổ chức.
* Nắm vững và thực hiện tốt nguyên tắc cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát:
Công tác kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh chỉ đạo của Đoàn, là hoạt động nội bộ của Đoàn. Do đó, tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải giữ đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đoàn. Những nguyên tắc cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát là phải dựa vào cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn, phát huy tinh thần tự giác, tự phê bình của cán bộ, đoàn viên, phát huy trách nhiệm xây dựng Đoàn của cán bộ, đảng viên và quần chúng, làm tốt công tác thẩm tra, xác minh; kết hợp công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn với công tác kiểm tra giám sát của Đảng; công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân và công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức hội nghề nghiệp khác nhau, phối hợp với các ban, ngành liên quan.
- Dựa vào tổ chức Đoàn: Tổ chức Đoàn là cơ quan lãnh đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn cấp dưới. Có dựa vào tổ chức Đoàn thì chủ thể kiểm tra, giám sát mới hiểu rõ đặc điểm tình hình, điều kiện, những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đối tượng được kiểm tra, giám sát để có cơ sở xem xét, kết luận một cách chính xác.
Dựa vào tổ chức Đoàn vừa là phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng tổ chức Đoàn, nhưng trong tình hình cụ thể của mỗi tổ chức đoàn cần vận dụng phù hợp.
- Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đoàn, của cán bộ, đoàn viên: Tổ chức Đoàn được thành lập theo quy định có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, đoàn viên là những thanh niên tiên tiến, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đoàn, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đoàn, chấp hành Điều lệ Đoàn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Đoàn. Tự giác là bản chất của Đoàn. Vì vậy tự giác không chỉ là phương tiện mà còn chính là mục đích của công tác kiểm tra, giám sát nói riêng, công tác xây dựng Đoàn nói chung. Tự giác là một quá trình phản ánh phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, ý thức, ý chí của tổ chức Đoàn, mỗi cán bộ Đoàn, đoàn viên. Mức độ tự giác của mỗi tổ chức Đoàn, mỗi cán bộ Đoàn, đoàn viên khác nhau (do nhận thức, điều kiện trưởng thành, quá trình rèn luyện, học tập, chiến đấu, công tác khác nhau …); vì vậy, khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức Đoàn cần coi trọng và thực hiện tốt công tác tư tưởng đối với đối tượng được kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao và phát huy tinh thần tự giác, tự phê bình để nhận rõ ưu, khuyết điểm, vi phạm, khi cần thì tham gia giúp cho tổ chức kiểm tra có cơ sở kết luận chính xác. Trong kiểm tra, đối với những trường hợp cán bộ, đoàn viên quanh co, không thành khẩn, có sai lầm, khuyết điểm cần kiên trì động viên, thuyết phục kết hợp với đấu tranh và thẩm tra, xác minh để làm rõ đúng sai.
- Phát huy trách nhiệm xây dựng Đoàn của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân:
Qua kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức Đoàn, việc thực hiện nhiệm vụ công tác và phẩm chất cán bộ đoàn viên, mọi hoạt động của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên phải được thanh niên, nhân dân quan tâm, kiểm tra, giám sát. Những ý kiến đóng góp cần được nghiêm túc tiếp thu. Nếu có ý kiến chưa đúng phải giải thích để hiểu rõ, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất trong tập thể, đơn vị, quần chúng nhân dân và thanh niên.
- Khi kiểm tra phải thực hiện tốt công tác thẩm tra, xác minh: Thực tiễn cho thấy, khi được kiểm tra nhiều tổ chức Đoàn, đoàn viên, cán bộ đã tự giác, nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá ưu, khuyết điểm của bản thân nhưng cũng có tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên thiếu tự giác, tìm cách đối phó gây khó khăn trở ngại với công tác kiểm tra. Mọi hoạt động của tổ chức đoàn và đoàn viên bao giwof cũng diễn ra trong không gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể với những diễn biến, tình tiết khác nhau, nhiều khi liên quan đến nhiều tổ chức, nhiều người, nhiều cấp khác nhau, có việc còn giữ nguyên bằng chứng, có việc bằng chứng bị thất lạc hoặc bị thay đổi. Do đó, đòi hỏi phải thực hiện tốt công tác thẩm tra, xác minh, nếu chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được kết luận vì dễ dẫn đến kết luận không đúng bản chất, kết luận sai vụ việc, sự việc.
- Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, công tác thanh tra của Nhà nước và các đoàn thể, tổ chức có liên quan: sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp, phát huy được các điều kiện cơ sở vật chất, sức người với kinh nghiệm của ngành, đơn vị và của cán bộ kiểm tra thuộc ngành, đơn vị đó phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đoàn, đặc biệt trong điều kiện biên chế về cán bộ còn hạn hẹp.
IV. NỘI DUNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
1- Công tác kiểm tra, giám sát của các cấp bộ Đoàn:
1.1 Về đối tượng:
Ban Chấp hành Đoàn các cấp là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai nhiệm kỳ Đại hội của Đoàn cấp đó. BCH Đoàn có trách nhiệm và quyền hạn kiểm tra, giám sát tổ chức Đoàn, cán bộ và đoàn viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình đồng thời chịu sự giám sát, kiểm tra của Đoàn cấp trên.
1.2 Về trách nhiệm của các cấp bộ Đoàn:
- Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát: Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp xây dựng và chỉ đạo cấp bộ đoàn cấp dưới, các ban chuyên môn và ủy ban kiểm tra xây dựng phương hướng và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát trong từng thời gian. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của các cấp bộ đoàn. Lãnh đạo và chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của ủy ban kiểm tra, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát: Ban Chấp hành, ban thường vụ Đoàn xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, trong đó xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp tiến hành kiểm tra, tổ chức lực lượng phân công cụ thể từng ủy viên ban thường vụ, ban chấp hành và các ban chức năng của tổ chức đoàn tiến hành kiểm tra.
1.3 Nội dung:
Ban Chấp hành Đoàn các cấp có trách nhiệm và quyền hạn kiểm tra việc chấp hành đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc chấp hành, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn các cấp, nghị quyết, chỉ thị, chủ trương công tác của Đoàn cấp trên; việc ra các quyết định và thực hiện các quyết định của tổ chức Đoàn, chấp hành Điều lệ Đoàn, các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đoàn.
1.4 Về cách thức tiến hành:
BCH Đoàn các cấp có thể trực tiếp kiểm tra hoặc sử dụng các bộ phận giúp việc và Ủy ban kiểm tra của cấp mình để tiến hành kiểm tra, giám sát. Qua kiểm tra, giám sát, BCH Đoàn các cấp cần kết luận rõ những ưu, khuyết điểm về nội dung được tiến hành kiểm tra, giám sát; những kinh nghiệm về lãnh chỉ đạo; phát hiện những mô hình mới, cách làm sáng tạo của cơ sở, biểu dương, cổ vũ những tổ chức, cán bộ, đoàn viên tốt; phê bình, xử lý kỷ luật đối với những cán bộ, đoàn viên, cơ quan lãnh đạo của Đoàn vi phạm kỷ luật (theo thẩm quyền).
2- Công tác kiểm tra, giám sát của các ban tham mưu của các cấp bộ Đoàn:
2.1 Về đối tượng: Các ban tham mưu có trách nhiệm giúp cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cùng cấp kiểm tra, giám sát các cấp bộ Đoàn cấp dưới và các ban chuyên môn của BCH Đoàn cấp dưới thực hiện chủ trương, nghị quyết, nguyên tắc của Đoàn thuộc phạm vi công tác phụ trách.
2.2 Về cách thức tiến hành:
Các ban tham mưu sử dụng cán bộ thuộc bộ máy của mình để tiến hành kiểm tra, giám sát. Sau kiểm tra, giám sát, tùy theo nội dung vấn đề được kiểm tra, giám sát và quy định của Đoàn, các ban có trách nhiệm báo cáo với Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp mình về kết quả kiểm tra, giám sát. Giúp cán bộ Đoàn kết luận những ưu điểm, khuyết điểm của cấp bộ Đoàn cấp dưới trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, nguyên tắc của Đoàn, thuộc phạm vi công tác do ban phụ trách. Trường hợp phát hiện tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên có sai phạm, khuyết điểm cần xử lý kỷ luật, các ban tổ chức việc kiểm tra, giám sát phải báo cáo với cấp bộ Đoàn và thông báo cho Ủy ban kiểm tra cấp mình để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
3- Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở Đoàn:
Tổ chức cơ sở Đoàn là nền tảng của Đoàn, là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện đoàn viên, trực tiếp thực hiện và lãnh đạo đoàn viên, thanh niên thực hiện mọi chủ trương, nghị quyết của Đoàn. Theo quy định của Điều lệ Đoàn, tổ chức cơ sở Đoàn không thành lập UBKT. Ban Chấp hành Đoàn cơ sở hoặc BCH Chi đoàn tiến hành thực hiện công tác kiểm tra, giám sát như một cấp bộ Đoàn, phân công Ủy viên BCH phụ trách công tác kiểm tra, giám sát. Đồng thời cần chú ý thêm một số nội dung: đó là kiểm tra, giám sát chấp hành Điều lệ Đoàn, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết, thống nhất của tổ chức cơ sở đoàn, đặc biệt, coi trọng kiểm tra, giám sát thường xuyên, kiểm tra, giám sát định kỳ qua các cuộc sinh hoạt chính trị...
4- Công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra các cấp của Đoàn:
UBKT các cấp của Đoàn do BCH Đoàn các cấp bầu ra. Việc xây dựng UBKT và bộ máy giúp việc UBKT các cấp phải căn cứ vào quy định của Điều lệ Đoàn, tuân theo nguyên tắc về công tác xây dựng tổ chức nói chung, căn cứ vào yêu cầu xây dựng Đoàn từng thời kỳ nói riêng, đặc điểm thực tiễn hoạt động của công tác kiểm tra mà tiến hành cho phù hợp. Thẩm quyền, trách nhiệm, nội dung công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện theo Điều lệ và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, Hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đoàn hiện hành.
B. ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP
I. TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ TIÊU CHUẨN ỦY VIÊN ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP
Căn cứ Điều 28, chương VII, Điều lệ Đoàn khóa X, ủy ban kiểm tra các cấp được xây dựng dựa trên các nguyên tắc và cơ cấu như sau:
1. Nguyên tắc tổ chức
- Ủy ban kiểm tra của Đoàn được thành lập từ Trung ương đến cấp huyện, do hội nghị ban chấp hành cùng cấp bầu ra. Nhiệm kỳ của ủy ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của ban chấp hành cùng cấp. Ủy ban kiểm tra có một số ủy viên ban chấp hành cùng cấp, song không quá một phần hai số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra. Số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra theo cấp nào do ban chấp hành cấp đó quyết định theo Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, song số ủy viên ủy ban kiểm tra không nhiều hơn số ủy viên ban thường vụ cùng cấp. Ban chấp hành bầu ủy viên ủy ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra do ủy ban kiểm tra bầu trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Việc bầu cử được tiến hành bằng hình thức bỏ phiếu kín.
- Cấp cơ sở, chi đoàn cử 1 đồng chí ủy viên ban chấp hành hoặc ủy viên ban thường vụ (nếu có) phụ trách công tác kiểm tra.
- Việc công nhận danh sách ủy ban kiểm tra mỗi cấp do ban chấp hành đoàn cùng cấp đề nghị và cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận. Việc rút tên ủy ban kiểm tra cấp nào do ban chấp hành cấp đó quyết định và báo cáo lên đoàn cấp trên trực tiếp. Việc bổ sung và cho rút tên ủy viên ủy ban Kiểm tra Trung ương Đoàn do Ban Chấp hành Trung ương Đoàn xem xét, quyết định. Sau đại hội ban chấp hành khóa mới chưa bầu được ủy ban kiểm tra thì việc quyết định các công việc liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, khiếu nại, tố cáo do ban chấp hành trực tiếp giải quyết hoặc ủy nhiệm cho các ban chức năng khác giải quyết.
2. Cơ cấu của ủy ban kiểm tra các cấp
Ủy ban kiểm tra mỗi cấp gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm và các ủy viên. Ngoài số ủy viên chuyên trách công tác tại cơ quan thường trực của ủy ban kiểm tra (Ban Kiểm tra hoặc Ban Tổ chức - Kiểm tra), cần có một số ủy viên đại diện cho các ban phong trào, đại diện tổ chức đoàn cấp dưới, nên có ủy viên là cán bộ, đoàn viên công tác tại cơ quan nội chính am hiểu pháp luật, nghiệp vụ kiểm tra, giám sát.
2.1. Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đoàn
Số lượng từ 11 đến 19 ủy viên cơ cấu gồm: Chủ nhiệm là Bí thư Trung ương Đoàn hoặc Ủy viên Ban thường vụ Trung ương Đoàn; các Phó Chủ nhiệm; một số Ủy viên chuyên trách công tác tại cơ quan thường trực, một số Ủy viên đại diện cho các ban, đơn vị thuộc Trung ương Đoàn, một số Ủy viên đại diện cho các tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn.
2.2. Ủy ban kiểm tra tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn
Số lượng: từ 5 đến 9 ủy viên, riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nên có từ 7-11 ủy viên. Trường hợp đặc biệt thì ban thường vụ tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc báo cáo với Ủy ban Kiểm tra, Ban thường vụ Trung ương Đoàn xem xét quyết định.
Cơ cấu gồm: Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuuộc; từ một đến hai phó chủ nhiệm; số còn lại là các ủy viên, trong đó:
- Từ 1 đến 3 ủy viên chuyên trách ở cơ quan thường trực ủy ban kiểm tra.
- Từ 1 đến 2 ủy viên là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đoàn cấp quận, huyện trực thuộc tỉnh.
- Một số ủy viên đại diện cho các ban của tỉnh, thành đoàn, cán bộ, đoàn viên công tác tại các cơ quan nội chính am hiểu pháp luật, nghiệp vụ kiểm tra, giám sát.
2.3. Ủy ban kiểm tra cấp huyện và tương đương
Số lượng từ 5 đến 7 đồng chí.
Cơ cấu gồm: Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ; phó chủ nhiệm là cán bộ chuyên trách công tác tại cơ quan quận, huyện đoàn, còn lại các ủy viên là các đồng chí phụ trách công tác kiểm tra tại đoàn cơ sở (doanh nghiệp, trường học, địa bàn dân cư,...) và đại diện khối nội chính hoặc các phòng ban của quận, huyện.
3. Tiêu chuẩn ủy viên ủy ban kiểm tra
Ngoài các tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng, của Đoàn cần có các tiêu chuẩn sau:
- Gương mẫu thực hiện Điều lệ Đoàn, các nghị quyết của Đoàn, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, có tác phong khiêm tốn, được quần chúng tín nhiệm.
- Nhiệt tình, năng động sáng tạo, có năng lực nghiệp vụ công tác kiểm tra và công tác xây dựng đoàn, có kinh nghiệm công tác đoàn và công tác vận động quần chúng.
Căn cứ quy định này, khi bầu ủy ban kiểm tra, ban chấp hành đoàn có thể đề ra tiêu chuẩn cao hơn hoặc cụ thể hơn đối với ủy viên ủy ban kiểm tra cấp mình cho phù hợp.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP
1. Chức năng
Ủy ban kiểm tra các cấp có 3 chức năng sau đây:
- Tham mưu cho cấp bộ đoàn cùng cấp về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đoàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cán bộ, đoàn viên, thanh niên.
- Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát đối với cấp bộ đoàn và ủy ban kiểm tra cấp dưới.
- Kiểm tra, giám sát cán bộ, đoàn viên (kể cả ủy viên ban chấp hành cùng cấp) và tổ chức đoàn cấp dưới về việc chấp hành Điều lệ Đoàn và thực hiện các nghị quyết, chủ trương công tác của Đoàn.
2. Nhiệm vụ
1. Tham mưu cho ban chấp hành kiểm tra việc thi hành Điều lệ, nghị quyết, chủ trương của Đoàn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, thanh niên.
2. Kiểm tra cán bộ, đoàn viên (kể cả ủy viên ban chấp hành cùng cấp) và tổ chức đoàn cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đoàn.
3. Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của tổ chức đoàn cấp dưới.
4. Giám sát ủy viên ban chấp hành, cán bộ cùng cấp và tổ chức đoàn cấp dưới trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, quy định của Đoàn.
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán bộ, đoàn viên và nhân dân liên quan đến cán bộ, đoàn viên; tham mưu cho Ban chấp hành về việc thi hành kỷ luật Đoàn.
6. Kiểm tra công tác đoàn phí, việc sử dụng các nguồn quỹ khác của đơn vị trực thuộc ban chấp hành cùng cấp và cấp dưới.
III. QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP
1. Quyền được kiểm tra, giám sát cán bộ, đoàn viên và tổ chức đoàn cấp dưới theo quy định của Điều lệ và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn
- Ủy ban kiểm tra cấp trên được quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của ủy ban kiểm tra cấp dưới.
- Ủy ban kiểm tra các cấp được quyền kiểm tra, giám sát cán bộ, đoàn viên (kể cả ủy viên ban chấp hành cùng cấp) về chấp hành Điều lệ và kỷ luật của Đoàn.
- Ủy ban kiểm tra cấp trên được quyền kiểm tra tổ chức đoàn cấp dưới một số lĩnh vực sau:
+ Việc chấp hành Điều lệ Đoàn.
+ Việc kỷ luật và thi hành kỷ luật cán bộ, đoàn viên, tổ chức Đoàn.
+ Công tác Đoàn phí và sử dụng tài chính của đơn vị trực thuộc ban chấp hành cùng cấp và cấp dưới.
2. Quyền được yêu cầu
- Được yêu cầu tổ chức đoàn cấp dưới, cán bộ, đoàn viên và những người có liên quan báo cáo, cung cấp tài liệu, chứng từ và các vấn đề khác có liên quan trong quá trình kiểm tra.
- Được tham dự các hội nghị của cấp bộ đoàn cùng cấp và cấp dưới khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra.
3. Quyền được đề nghị
- Đề nghị đoàn cấp trên, các cơ quan của Đảng, Nhà nước trả lời, giải quyết những đơn thư khiếu nại, tố cáo của đoàn viên, thanh niên.
- Đề nghị cấp bộ đoàn thi hành kỷ luật cán bộ, đoàn viên; đề nghị xóa tên các ủy viên ban chấp hành hay ủy viên ủy ban kiểm tra cùng cấp và cấp dưới theo đúng tính chất và mức độ vi phạm.
4. Quyền được đề nghị chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ các quyết định về kỷ luật của tổ chức Đoàn cấp dưới
Trong quá trình giải quyết đơn, thư khiếu nại về kỷ luật hoặc kiểm tra việc thi hành kỷ luật của tổ chức đoàn cấp dưới đối với cán bộ, đoàn viên và tổ chức đoàn, nếu phát hiện thấy trường hợp xử lý kỷ luật không đúng, ủy ban kiểm tra cấp trên có quyền yêu cầu đoàn cấp dưới sửa đổi; nếu đoàn cấp dưới không sửa đổi thì ủy ban kiểm ra cấp trên có quyền báo cáo cấp bộ đoàn cùng cấp hoặc cấp trên thay đổi hoặc xóa bỏ các quyết định về kỷ luật đó.
IV. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG, CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA ỦY BAN KIỂM TRA CÁC CẤP
- Ủy ban kiểm tra các cấp làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ tập thể, khi quyết định thì thiểu số phục tùng đa số; mỗi ủy viên phải chấp hành và chịu trách nhiệm trước ủy ban kiểm tra về nhiệm vụ được phân công.
- Ủy ban kiểm tra chịu sự lãnh đạo của ban chấp hành cùng cấp và sự hướng dẫn, chỉ đạo của ủy ban kiểm tra cấp trên về phương hướng nhiệm vụ, nghiệp vụ công tác kiểm tra.
- Quy chế hoạt động của ủy ban kiểm tra do ban chấp hành đoàn cùng cấp ban hành.
- Ủy ban kiểm tra được sử dụng con dấu riêng trong hoạt động.
- Ủy ban kiểm tra các cấp họp định kỳ 1 năm 2 lần, họp bất thường khi cần. Trong các phiên họp, ngoài việc giải quyết các công việc cụ thể, ủy ban kiểm tra cần kiểm điểm việc thực hiện 6 nhiệm vụ do Điều lệ quy định, quyết định trọng tâm, phương hướng công tác mới.
- Những cấp có cơ quan thường trực của ủy ban kiểm tra (Ban kiểm tra) thì nguyên tắc làm việc của cơ quan thường trực là tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng. Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước cơ quan chuyên trách của Đoàn về quản lý cán bộ và cơ sở vật chất theo phân cấp.
- Nếu vì lý do đặc biệt mà ban chấp hành chưa bầu được ủy ban kiểm tra thì có thể đề nghị cấp bộ Đoàn cấp trên trực tiếp chỉ định.
+ Hồ sơ đề nghị chỉ định gồm: Công văn đề nghị của ban chấp hành; danh sách và tóm tắt lý lịch của các ủy viên chỉ định.
+ Thời gian hoạt động của ủy ban kiểm tra được chỉ định không được kéo dài quá 2 kỳ họp của ban chấp hành cùng cấp.
+ Ủy ban kiểm tra được chỉ định có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như ủy ban kiểm tra do ban chấp hành bầu.
- Ủy viên ủy ban kiểm tra vì lý do đặc biệt không có điều kiện tham gia hoạt động của ủy ban kiểm tra thì tự nguyện làm đơn rút khỏi ban kiểm tra, ban chấp hành Đoàn cấp đó quyết định cho rút và bổ sung đồng chí khác thay thế.
 
C. KỶ LUẬT VÀ VIỆC THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐOÀN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Khái niệm về kỷ luật
Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, kỷ luật là: "Tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ trong tổ chức đó". Theo nghĩa trên, kỷ luật của Đoàn được hiểu là tổng thể những điều đã được quy định trong Điều lệ Đoàn, Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, nghị quyết, các quy chế, quy định của Đoàn có tính chất bắt buộc và các tổ chức đoàn và tất cả đoàn viên phải thực hiện để đảm bảo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn Đoàn. Kỷ luật đoàn còn được hiểu theo nghĩa hẹp là hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo,...) với ý nghĩa là những "chế tài",  hậu quả bất lợi mà người vi phạm những quy định của Đoàn phải gánh chịu có tính chất giáo dục, răn đe, trừng phạt của tổ chức.
2. Mục đích của kỷ luật Đoàn
Căn cứ Điều 32 chương VIII, Điều lệ Đoàn khóa X, mục đích của kỷ luật Đoàn là: Nhằm thống nhất ý chí và hành động, đảm bảo kỷ cương của Đoàn và giáo dục cán bộ, đoàn viên.
3. Tính chất của kỷ luật Đoàn
Kỷ luật Đoàn có tính nghiêm túc và tự giác.
- Nghiêm túc: là tất cả các tổ chức đoàn, cán bộ đoàn, đoàn viên đều phải phục tùng kỷ luật của Đoàn, chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đoàn, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, nói và làm theo nghị quyết của Đoàn. Bất cứ ai vi phạm đều phải chịu kỷ luật, không có ngoại lệ.
- Tự giác: là đặc trưng cơ bản của kỷ luật Đoàn, vì tổ chức đoàn bao gồm những người tự nguyện, rèn luyện, phấn đấu và thực hiện theo Điều lệ Đoàn. Mọi đoàn viên đều phải tự giác giữ gìn kỷ luật của tổ chức Đoàn.
Tính nghiêm túc và tự giác là yêu cầu cao nhất của kỷ luật Đoàn vì nghiêm túc phải trên cơ sở tự giác, tự giác càng cao thì kỷ luật càng nghiêm túc.
4. Nội dung kỷ luật của Đoàn
4.1. Việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
4.2. Việc chấp hành Điều lệ Đoàn, các chủ trương, nghị quyết, quy định, quy chế của tổ chức Đoàn.
4.3. Việc chấp hành các quy chế của các tổ chức khác mà cán bộ, đoàn viên tham gia.
II. THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐOÀN
1. Mục đích, ý nghĩa
- Thi hành kỷ luật trong Đoàn nhằm giúp cơ quan lãnh đạo của Đoàn, cán bộ, đoàn viên vi phạm kỷ luật thấy được khuyết điểm của mình để sửa chữa, đồng thời giáo dục những người khác nhận thức được rõ hậu quả của hành vi vi phạm kỷ luật.
- Thi hành kỷ luật tạo ra sự đoàn kết, thống nhất giữa ý chí và hành động trong cán bộ đoàn, đoàn viên và tổ chức đoàn.
- Thi hành kỷ luật là nhằm nâng cao sức chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đoàn và đoàn viên.
- Thi hành kỷ luật là góp phần xây dựng con người mới và xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh.
2. Phương hướng, phương châm trong thi hành kỷ luật
2.1. Phương hướng
Thi hành kỷ luật nghiêm đối với các trường hợp tổ chức đoàn, cán bộ đoàn, đoàn viên sa sút ý chí chiến đấu, vi phạm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vi phạm Điều lệ Đoàn, không chấp hành nghị quyết, quy định, quy chế của Đoàn, vô tổ chức kỷ luật, gây mất đoàn kết, thoái hóa biến chất về phẩm chất đạo đức.
2.2. Phương châm
- Công minh: Là công bằng, rõ ràng, công khai trong thi hành kỷ luật. Mọi cán bộ, đoàn viên đều bình đẳng trước kỷ luật Đoàn, không có ngoại lệ, không phân biệt chức vụ, nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo...
Xử lý nghiêm khắc đối với những người ngoan cố, không nghiêm túc nhìn nhận vi phạm. Xem xét, giảm nhẹ đối với những người thành khẩn nhận rõ vi phạm, tích cực sửa chữa, khắc phục hậu quả.
- Chính xác: Là thi hành kỷ luật đúng người, đúng mức độ vi phạm. Khi thi hành kỷ luật cần xem xét toàn diện về nguyên nhân, hoàn cảnh và hậu quả của vi phạm mà quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp.
- Kịp thời: là mọi vi phạm cần được phát hiện, xử lý nhanh chóng, đúng thời điểm, đảm bảo ngăn chặn kịp thời hậu quả hoặc không để xảy ra hậu quả lớn hơn.
3. Một số nguyên tắc trong thi hành kỷ luật của Đoàn
3.1. Cán bộ đoàn và đoàn viên đều bình đẳng trước kỷ luật Đoàn, nếu vi phạm khuyết điểm tùy theo mức độ đều bị xử lý kỷ luật.
3.2. Trong khi xem xét xử lý kỷ luật, phải căn cứ kết quả tự phê bình và kết quả thẩm tra xác minh để đảm bảo kết luận khách quan, chính xác, không bỏ sót khuyết điểm. Khi xem xét, xử lý cần làm rõ nguyên nhân sai phạm động cơ sai phạm và hoàn cảnh sai phạm.
3.3. Kỷ luật Đoàn không thay thế kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính, kỷ luật của các đoàn thể khác hoặc ngược lại.
3.4. Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện cán bộ, đoàn viên vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng thì báo cáo cấp độ đoàn cùng cấp phối hợp với cơ quan chức năng xem xét, xử lý.
3.5. Trường hợp tại nhiệm kỳ của ban chấp hành, ủy ban kiểm tra khóa cũ chưa kết luận được, phải chuyển giao hồ sơ để ban chấp hành, ủy ban kiểm tra khóa mới tiếp tục xem xét, kết luận và xử lý.
3.6. Cán bộ, đoàn viên có khuyết điểm đang trong quá trình kiểm tra, xem xét, không được rút khỏi danh sách ban chấp hành hoặc xét đơn xin ra Đoàn của cán bộ, đoàn viên đó.
3.7. Đoàn viên bị khai trừ, sau một năm thì được xem xét kết nạp lại. Thời gian bị khai trừ không được tính tuổi đoàn viên.
III. CÁC HÌNH THỨC KỶ LUẬT CỦA ĐOÀN
1. Đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn
Có 3 hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
1.1 Khiển trách: Áp dụng đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn vi phạm Điều lệ, chủ trương, quy chế, nghị quyết, các nguyên tắc của Đoàn; chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà tính chất và mức độ không lớn, ảnh hưởng trong phạm vi hẹp.
1.2. Cảnh cáo: Áp dụng đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn vi phạm Điều lệ, không chấp hành chủ trương, quy chế, nghị quyết và các nguyên tắc của tổ chức Đoàn; vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước mà tính chất và mức độ lớn, ảnh hưởng trong phạm vi rộng nhưng chưa đến mức phải áp dụng hình thức giải tán hoặc đã bị đoàn cấp trên kỷ luật khiển trách mà còn tái phạm.
1.3. Giải tán: Áp dụng đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn yếu kém nhiều năm, mất tính chiến đấu không còn tác dụng đối với thanh thiếu nhi. Chỉ áp dụng giải tán cơ quan lãnh đạo của Đoàn khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số cán bộ trong cơ quan lãnh đạo của Đoàn vi phạm khuyết điểm đến mức phải khai trừ hay cách chức.
2. Đối với cán bộ đoàn
Có 4 hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.
2.1. Khiển trách: Áp dụng đối với những cán bộ đoàn mắc khuyết điểm lần đầu, khuyết điểm ở mức độ nhẹ, ảnh hưởng gây tác hại trong phạm vi hẹp, đã nhận thấy khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa.
2.2. Cảnh cáo: Áp dụng đối với cán bộ đoàn vi phạm kỷ luật bị khiển trách mà còn tái phạm, hoặc tuy mới phạm lần đầu nhưng mang tính chất tương đối nghiêm trọng, phạm vi ảnh hưởng tương đối rộng.
2.3. Cách chức: Áp dụng đối với cán bộ đoàn vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức đoàn, không xứng đáng để giữ chức vụ đó.
Khi áp dụng hình thức kỷ luật cách chức cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Đối với cán bộ giữ nhiều chức vụ:
Cán bộ giữ nhiều chức vụ vi phạm kỷ luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà cách một chức, nhiều chức hay cách hết các chức vụ.
- Trường hợp cán bộ giữ nhiều chức vụ trong một cấp như bí thư (hoặc phó bí thư), ủy viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành... khi vi phạm kỷ luật phải cách chức thì: nếu cách chức bí thư (hoặc phó Bí thư) thì còn là ủy viên ban thường vụ và ủy viên ban chấp hành; nếu cách chức ủy viên ban thường vụ thì còn là ủy viên ban chấp hành; nếu cách chức ủy viên ban chấp hành thì hết các chức vụ.
- Trường hợp một cán bộ giữ nhiều chức vụ ở nhiều cấp, khi vi phạm kỷ luật phải cách chức thì: cách chức ở cấp nào thì chỉ mất chức vụ ở cấp đó, các chức vụ ở cấp khác vẫn còn.
- Trường hợp một cán bộ vừa là ủy viên ban chấp hành vừa là ủy viên ủy ban kiểm tra cùng cấp, khi vi phạm kỷ luật phải cách chức thì: Nếu cách chức ủy viên ban chấp hành thì không còn chức ủy viên ủy ban kiểm tra; nếu cách chức ủy viên ủy ban kiểm tra thì tùy thuộc mức độ sai phạm để đề nghị cấp bộ đoàn xem xét tư cách ủy viên ban chấp hành.
2.4. Khai trừ: áp dụng đối với cán bộ đoàn còn là đoàn viên (trong độ tuổi đoàn viên theo quy định của Điều lệ Đoàn) vi phạm khuyết điểm ở mức rất nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức Đoàn, không xứng đáng được đứng trong hàng ngũ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hoặc bị tòa án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên.
3. Đối với đoàn viên
Có 3 hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, khai trừ
Mức độ áp dụng các hình thức kỷ luật của đoàn viên tương tự như áp dụng đối với cán bộ đoàn.
4. Một số trường hợp không phải là hình thức kỷ luật
4.1. Đình chỉ công tác, sinh hoạt, chức vụ
- Áp dụng đối với đoàn viên là: đình chỉ công tác, sinh hoạt đoàn.
- Đối với cán bộ đình chỉ công tác, đình chỉ chức vụ để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiểm tra và kết luận những vi phạm khuyết điểm có liên quan đến đoàn viên hoặc cán bộ đó, thời hạn đình chỉ không quá 3 tháng. Quá thời gian 3 tháng, chưa có kết luận kiểm tra, nếu thấy cần thiết có thể tiếp tục đình chỉ lần thứ 2 không quá 3 tháng. Thời hạn đình chỉ không được quá 6 tháng (kể cả thời gian gia hạn).
- Trong thời gian bị đình chỉ chức vụ, đình chỉ công tác phục vụ quá trình kiểm tra, người bị đình chỉ vẫn được hưởng lương, phụ cấp chức vụ (nếu có).
- Thẩm quyền đình chỉ công tác, sinh hoạt, chức vụ:
+ Tổ chức Đoàn nào có thẩm quyền kỷ luật cán bộ Đoàn, đoàn viên thì tổ chức đó có thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt, chức vụ công tác, sau khi đã thống nhất với cấp ủy cấp quản lý cán bộ bị đình chỉ công tác.
+ Thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt Đoàn của đoàn viên do cấp bộ Đoàn cấp trên trực tiếp của chi đoàn có đoàn viên bị đỉnh chỉ sinh hoạt ra quyết định.
4.2. Xóa tên trong danh sách đoàn viên khoản 3, Điều 4, Chương I, Điều lệ Đoàn khóa X quy định như sau: "Đoàn viên không tham gia sinh hoạt Đoàn hoặc không đóng Đoàn phí 3 tháng trong 1 năm mà không có lý do chính đáng thì hội nghị chi đoàn xem xét, quyết định xóa tên trong danh sách đoàn viên và báo cáo lên Đoàn cấp trên trực tiếp".
IV. THẨM QUYỀN KỶ LUẬT
1. Những tổ chức có thẩm quyền kỷ luật
- Chi đoàn và chi đoàn cơ sở.
- Ban chấp hành Đoàn cơ sở trở lên.
- Các ban cán sự Đoàn được Ban thường vụ Trung ương Đoàn ủy quyền.
Riêng thẩm quyền kỷ luật của tổ chức đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện theo Mục II, phần A, Phần thứ năm Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn, cụ thể là:
+ Đối với ban chấp hành đoàn cơ sở ở trung đoàn và tương đương: Quyết định thi hành kỷ luật đến hình thức khai trừ đối với đoàn viên và cách chức ủy viên ban chấp hành liên chi đoàn; khiển trách, cảnh cáo đối với ủy viên ban chấp hành đoàn cơ sở. Các hình thức kỷ luật cao hơn do ban chấp hành đoàn cơ sở xét và đề nghị, cấp ủy đảng cơ sở chuẩn y.
+ Đối với ban chấp hành leien chi đoàn ở tiểu đoàn và đơn vị tương đương: Quyết định thi hành kỷ luật với hình thức khiển trách, cảnh cáo đoàn viên và khiển trách đối với ủy viên ban chấp hành chi đoàn.
+ Ban chấp hành chi đoàn: Quyết định hình thức kỷ luật khiển trách đối với đoàn viên.
2. Thẩm quyền thi hành kỷ luật
2.1. Đối với đoàn viên
Khi vi phạm kỷ luật phải được kiểm điểm trước chi đoàn với sự có mặt ít nhất 2/3 tổng số đoàn viên chi đoàn và được quá nửa (1/2) ý kiến biểu quyết đồng ý của đoàn viên có mặt trong hội nghị.
Chi đoàn có thẩm quyền kỷ luật khiển trách đoàn viên. Từ hình thức cảnh cáo trở lên chi đoàn báo cáo lên đoàn cấp trên trực tiếp xem xét và quyết định.
2.2. Đối với cán bộ Đoàn
Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với cán bộ đoàn là ủy viên ban thường vụ và ủy viên ban chấp hành đoàn ở các cấp.
- Ủy viên ban chấp hành đoàn cấp nào do hội nghị Ban chấp hành Đoàn cấp đó (có mặt ít nhất 2/3 tổng số ủy viên ban chấp hành) thảo luận, biểu quyết hình thức kỷ luật với sự đồng ý của quá nửa (1/2) số ủy viên ban chấp hành Đoàn có mặt tại hội nghị. Đồng thời, phải được cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp xét, quy định. Đối với ủy ban Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, khi vi phạm kỷ luật phải được hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đoàn họp biểu quyết, quyết định hình thức kỷ luật với sự đồng ý của quá nửa (1/2) số ủy viên ban chấp hành có mặt tại hội nghị.
Thẩm quyền kỷ luật đối với ủy viên ủy ban kiểm tra đoàn các cấp áp dụng như kỷ luật ủy viên ban chấp hành đoàn cùng cấp.
- Trường hợp ủy viên ban chấp hành hoặc ủy viên ủy ban kiểm tra trong độ tuổi đoàn viên, khi vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm, thảo luận và biểu quyết hình thức kỷ luật tại chi đoàn nơi đồng chí đó sinh hoạt.
- Trường hợp cán bộ đoàn là cấp ủy viên tham gia ban chấp hành đoàn, nếu vi phạm kỷ luật, trước khi kiểm điểm, phải báo cáo xin ý kiến cấp ủy quản lý trực tiếp cán bộ đó.
- Trường hợp cán bộ giữ nhiều chức vụ trong nhiều cấp, khi vi phạm kỷ luật thì cấp nào quản lý trực tiếp chức danh nào cấp đó kiểm điểm, thảo luận biểu quyết hình thức kỷ luật và ban hành quyết định kỷ luật đối với chức danh đó.
- Trường hợp cán bộ chuyên trách có chức vụ trong cơ quan của Đoàn nhưng không tham gia ban chấp hành, nếu vi phạm kỷ luật, cấp nào bổ nhiệm, cấp đó xử lý kỷ luật.
2.3. Đối với cơ quan lãnh đạo của Đoàn
- Khiển trách, cảnh cáo cơ quan lãnh đạo của Đoàn do ban chấp hành Đoàn cấp trên trực tiếp xét và quyết định với sự đồng ý của quá nửa (1/2) số ủy viên ban chấp hành.
- Giải tán cơ quan lãnh đạo của Đoàn do hội nghị ban chấp hành Đoàn cấp trên trực tiếp (có mặt ít nhất 2/3 số ủy viên ban chấp hành) thảo luận và quyết định với sự đồng ý của quá nửa (1/2) số ủy viên ban chấp hành đoàn. Đối với cấp tỉnh và tương đương do Ban chấp hành Trung ương Đoàn quyết định với sự đồng ý của quá nửa (1/2) tổng số ủy viên ban chấp hành.
3. Quyền của tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên khi bị kỷ luật
Cán bộ, đoàn viên bị kỷ luật có các quyền sau:
- Được trình bày khuyết điểm của mình trước hội nghị chi đoàn hoặc hội nghị ban chấp hành.
- Được biểu quyết về hình thức kỷ luật của mình.
V. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THI HÀNH KỶ LUẬT VÀ XÉT CÔNG NHẬN TIẾN BỘ
1. Kiểm tra, xác minh
Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật thành lập tổ kiểm tra, xác minh vi phạm. Quá trình kiểm tra xác minh phải đảm bảo khách quan, chính xác. Khi làm việc với cơ quan lãnh đạo của Đoàn vi phạm kỷ luật, người vi phạm kỷ luật và cán bộ, đoàn viên, quần chúng có liên quan tổ kiểm tra phải lập biên bản làm việc để có căn cứ khi kết luận. Kết thúc quá trình kiểm tra phải có báo cáo, kết luận giải quyết.
2. Tổ chức kiểm điểm
Khi đã có đủ căn cứ để kết luận thì tiến hành kiểm điểm những vi phạm mà cơ quan lãnh đạo của Đoàn, người vi phạm kỷ luật đã vi phạm. Thủ tục cụ thể như sau:
- Triệu tập họp chi đoàn (đối với trường hợp vi phạm là đoàn viên) hoặc ban chấp hành đoàn (trường hợp vi phạm là cán bộ Đoàn).
- Tổ chức đoàn, người vi phạm kỷ luật trình bày kiểm điểm bằng văn bản trước hội nghị. Các thành viên dự họp đóng góp ý kiến, phân tích rõ nguyên nhân, tính chất, mức độ của vi phạm.
- Ủy ban kiểm tra báo cáo kết luận kiểm tra, xác minh và đề nghị hình thức kỷ luật.
- Chủ tọa hội nghị kết luận từng vấn đề nếu có nhiều nội dung vi phạm thì kết luận từng vấn đề trên cơ sở tự kiểm điểm vi phạm của người vi phạm, kết quả kiểm tra, xác minh và ý kiến của những người tham gia hội nghị.
- Hội nghị tiến hành biểu quyết hình thức kỷ luật (bỏ phiếu kín).
Nếu người vi phạm cố tình vắng mặt hoặc không tự giác kiểm điểm thì hội nghị vẫn tiến hành họp xét kỷ luật sau đó thông báo cho người vi phạm biết.
- Nếu kết quả bỏ phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật có hình thức kỷ luật quá bán thì đề nghị đoàn cấp trên xem xét quyết định (trường hợp chi đoàn kỷ luật đoàn viên bằng hình thức khiển trách thì có hiệu lực ngay sau khi công bố).
- Trong trường hợp kết quả bỏ phiếu đề nghị kỷ luật không có hình thức nào quá bán (1/2) hoặc kết quả bỏ phiếu bằng nhau thì ban chấp hành đoàn làm văn bản báo cáo lên ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp trên xem xét quyết định.
3. Gửi hồ sơ đề nghị kỷ luật cho cấp bộ đoàn cấp trên xét và ra quyết định kỷ luật
Hồ sơ xét kỷ luật gồm:
- Bản tự kiểm điểm của cá nhân hoặc tập thể vi phạm.
- Biên bản họp chi đoàn hoặc ban chấp hành đoàn xét kỷ luật (phải ghi rõ thời gian, thành phần, số lượng người dự họp, tóm tắt ý kiến của từng người, kết quả biểu quyết hình thức kỷ luật).
- Văn bản đề nghị của ban chấp hành đoàn.
- Các văn bản khác có liên quan (như kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm tra, quyết định kỷ luật của Đảng, chính quyền, đoàn thể khác; các tài liệu xác minh, điều tra... nếu có).
4. Công bố quyết định kỷ luật
Sau khi ra quyết định kỷ luật, cấp nào ký quyết định kỷ luật, cấp đó tổ chức công bố và chuyển giao quyết định kỷ luật cho tổ chức hoặc người bị kỷ luật. Có thể ủy nhiệm cho ban thường vụ đoàn cấp quản lý trực tiếp người bị kỷ luật công bố quyết định kỷ luật (trường hợp đặc biệt có thể gửi quyết định kỷ luật qua đường bưu điện). Quyết định kỷ luật được gửi đến các cấp bộ đoàn hoặc người bị kỷ luật và tổ chức có liên quan để thi hành.
5. Công nhận tiến bộ cho người bị thi hành kỷ luật
Kể từ khi quyết định kỷ luật cán bộ, đoàn viên thì cứ 6 tháng/lần (đối với trường hợp kỷ luật bằng hình thức khiển trách), 9 tháng/lần (đối với trường hợp kỷ luật hình thức cảnh cáo), 12 tháng/ lần (đối với trường hợp kỷ luật cán bộ bằng hình thức cách chức), cấp bộ đoàn nơi trực tiếp quản lý cán bộ, đoàn viên bị kỷ luật tiến hành họp, nhận xét quá trình sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đoàn viên. Nếu cán bộ, đoàn viên đó đã sửa chữa khuyết điểm, có tiến bộ thì đề nghị cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp xem xét ra quyết định công nhận tiến bộ.
- Quyết định công nhận tiến bộ phải lưu vào hồ sơ để quản lý cán bộ, đoàn viên.
- Đối với trường hợp bị kỷ luật cách chức, ngay sau khi nhận được công nhận tiến bộ, tùy theo điều kiện có thể bố trí công tác cho phù hợp, nhưng không khôi phục chức vụ đã bị cách chức.
- Đối với trường hợp bị kỷ luật khai trừ đoàn, sau khi hết 12 tháng, nếu người bị kỷ luật thực sự có tiến bộ thì chi đoàn, đoàn cơ sở xem xét, kết nạp lại đoàn viên.
Việc công nhận tiến bộ đối với những trường hợp bị kỷ luật của Đoàn được tiến hành theo các bước sau:
- Tại hội nghị của cấp bộ đoàn hoặc chi đoàn (trong trường hợp người bị kỷ luật là đoàn viên không giữ chức vụ Đoàn), cán bộ, đoàn viên trình bày bản tự kiểm điểm nhận xét quá trình rèn luyện, phấn đấu khắc phục khuyết điểm của cá nhân.
- Hội nghị cấp bộ đoàn hoặc hội nghị chi đoàn thảo luận, nhận xét và biểu quyết bằng phiếu kín với sự đồng ý của trên 1/2 số đại biểu có mặt tại hội nghị thì lập hồ sơ đề nghị cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận.
- Sau khi có quyết định công nhận tiến bộ, phải thông báo rộng rãi để cán bộ, đoàn viên trong đơn vị được biết.
Hồ sơ đề nghị công nhận tiến bộ gồm:
- Tờ trình của cấp bộ đoàn nơi quản lý cán bộ đề nghị cấp bộ Đoàn cấp trên trực tiếp công nhận tiến bộ.
- Bản tự kiểm điểm của người bị kỷ luật.
- Báo cáo nhận xét quá trình sửa chữa khuyết điểm, tiến bộ của cấp bộ đoàn nơi quản lý cán bộ hoặc chi đoàn (nếu là đoàn viên không giữ chức vụ).
- Biên bản Hội nghị xem xét việc chấp hành kỷ luật và đề nghị công nhận tiến bộ của cấp bộ đoàn nơi quản lý cán bộ.
D- GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
Giải quyết khiếu nại, tố cáo gồm hai công việc độc lập: giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đoàn và giải quyết đơn thư tố cáo.
Kết quả của giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến sinh mệnh chính trị, quyền lợi của cán bộ, đoàn viên, cơ quan lãnh đạo của Đoàn. Vì vậy, trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo cần đặc biệt chú ý đến những nguyên tắc cơ bản được pháp luật và Điều lệ Đoàn quy định.
I. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KỶ LUẬT ĐOÀN
Khiếu nại về kỷ luật Đoàn: Là việc cán bộ, đoàn viên hoặc cơ quan lãnh đạo của Đoàn (sau đây gọi tắt là người khiếu nại) đề nghị ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn có thẩm quyền xem xét lại quyết định kỷ luật mình khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là không đúng pháp luật, không đúng Điều lệ Đoàn, xâm hại đến quyền, lợi ích  của người khiếu nại.
Giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đoàn: Là việc xác minh, kết luận, ra quyết định của các tổ chức đoàn có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo Điều lệ và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn quy định.
1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
- Ban thường vụ đoàn, ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật Đoàn phải tuần tự từ cấp ra quyết định kỷ luật sau đó mới đến cấp trên của cấp ra quyết định kỷ luật. Thời hạn giải quyết được quy định tại điểm e, tiểu mục 1.2, phần 1, mục II, phần thứ sáu của Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn khóa X. Nếu quá thời hạn theo quy định tại Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn mà cấp đó không giải quyết hoặc nếu đã giải quyết mà người khiếu nại không đồng ý, còn khiếu nại tiếp thì ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp trên của cấp đã giải quyết khiếu nại có trách nhiệm xem xét giải quyết, nếu tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên bị kỷ luật vẫn chưa thống nhất với quyết định giải quyết thì có thể khiếu nại đến cấp cao nhất là Trung ương Đoàn.
- Khi nhận được đơn khiếu nại vượt cấp hoặc những đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, ủy ban kiểm tra hoặc cấp bộ đoàn cấp trên có trách nhiệm chuyển lại cho các cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết.
- Khi có những khiếu nại kỷ luật gửi vượt cấp, hoặc gửi đến cơ quan không có thẩm quyền giải quyết thì cơ quan nhận được có trách nhiệm hướng dẫn để người khiếu nại biết các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại để thực hiện đúng các quy định về giải quyết khiếu nại của Đoàn.
2. Nguyên tắc và thủ tục giải quyết khiếu nại
- Người khiếu nại về kỷ luật nhất thiết phải thực hiện bằng đơn, có chữ ký trực tiếp (không thụ ý, giải quyết đơn khiếu nại phôtô chữ ký), trong đơn khiếu nại phải thể hiện đủ các  nội dung: ngày, tháng, năm, họ tên, địa chỉ người khiếu nại, nội dung, lý do, bằng chứng khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại.
- Thời hạn giải quyết lần đầu không quá 30 ngày; đối với các vụ việc phức tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài, nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 45 ngày.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại lên cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo (Đối với khu vực đi lại khó khăn thời hạn có thể kéo dài dài hơn nhưng không quá 45 ngày). Thời gian giải quyết mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý để giải quyết, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết. Người khiếu nại không gửi đơn khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều ngành cùng một lúc; trong thời gian cấp có thẩm quyền đang xem xét, kết luận, người khiếu nại không gửi đơn khiếu nại đi các cấp, các ngành...
- Trường hợp đơn khiếu nại có nội dung, tính chất phức tạp, có liên quan đến nhiều cấp thì ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp có thể xem xét giải quyết.
- Đối với đơn, thư khiếu nại có liên quan đến đại biểu Đại hội hoặc Hội nghị đại biểu của Đoàn, thì chỉ nhận và xem xét, giải quyết đơn thư đó nếu được gửi đến trước đại hội, hội nghị đại biểu ít nhất 10 ngày.
- Trong khi giải quyết đơn khiếu nại, ủy ban kiểm tra phải đảm bảo khách quan, trung thực, đúng pháp luật và đúng quy định của Điều lệ Đoàn, không được quy chụp, trù dập, áp đặt đối với người có đơn khiếu nại. Sau khi giải quyết xong phải báo cáo với cấp bộ Đoàn có thẩm quyền xử lý.
- Cơ quan giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản và phải thể hiện những nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm ra quyết định giải quyết khiếu nại;
+ Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
+ Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần, sai toàn bộ;
+ Những căn cứ để giải quyết khiếu nại;
+ Giữ nguyên, sửa đổi một phần hay huy bỏ toàn bộ quyết định kỷ luật bị khiếu nại;
+ Việc bồi thường thiệt hại (nếu có).
Quyết định giải quyết khiếu nại được gửi cho người khiếu nại, các cơ quan, tổ chức liên quan.
3. Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại
- Quyết định giải quyết khiếu nại phải được các tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành.
- Nếu sửa đổi hoặc xóa bỏ quyết định kỷ luật thì cấp bộ đoàn nào có thẩm quyền xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật, cấp đó phải có trách nhiệm ra quyết định sửa đổi hoặc ra quyết định xóa bỏ kỷ luật.
- Những quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ đoàn viên bị xâm hại do quyết định thi hành kỷ luật trái với quy định trong Điều lệ Đoàn và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn thì phải được cân nhắc, xem xét (trường hợp bị cách chức thì tùy theo điều kiện thực tế có thể phục hồi lại chức vụ bị cách chức, hoặc trao đổi, thống nhất với cơ quan có chức năng, có thẩm quyền bố trí vào chức vụ, vị trí công tác mới cho phù hợp).
4. Lập và lưu trữ hỗ sơ giải quyết khiếu nại
- Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được lưu trữ tại cấp đã ra quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định gồm:
+ Đơn, thư khiếu nại có chữ ký của người khiếu nại.
+ Kết luận về việc giải quyết khiếu nại và các tài liệu chứng cứ có liên quan.
+ Quyết định về việc giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành.
+ Các công văn giấy tờ khác có liên quan.
II.GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
- Tố cáo là việc cán bộ đoàn viên, nhân dân hoặc tổ chức báo cho ủy ban kiểm tra hoặc cấp bộ đoàn biết về hành vi sai trái của cán bộ, đoàn viên hoặc tổ chức đoàn vi phạm chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết và kỷ luật của Đoàn.
- Giải quyết tố cáo là việc thẩm tra, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và quyết định xử lý của ủy ban kiểm tra hoặc cấp bộ đoàn giải quyết tố cáo.
1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
- Đơn thư tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh mà người bị tố cáo là cán bộ đoàn, đoàn viên thuộc diện quản lý của cấp nào thì ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp đó xem xét, kết luận, xử lý.
- Đơn thư tố cáo có liên quan đến các đồng chí ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đoàn thì ủy ban Kiểm tra Trung ương Đoàn xem xét, giải quyết và đề nghị Ban Thường vụ, Ban chấp hành Trung ương Đoàn xem xét kết luận.
- Đơn thư tố cáo tổ chức đoàn cấp dưới thì ủy ban kiểm tra, tổ chức đoàn cấp trên quản lý trực tiếp xem xét giải quyết.
- Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng, hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền gửi tố cáo lên ủy ban kiểm tra, hoặc cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp để giải quyết.
2. Nguyên tắc, thủ tục giải quyết tố cáo
2.1. Cán bộ, đoàn viên có quyền tố cáo bằng cách gửi đơn hoặc trình bày trực tiếp với ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn có trách nhiệm giải quyết tố cáo.
- Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo, nội dung tố cáo. Trường hợp người tố cáo trực tiếp tố cáo (không gửi đơn tố cáo), thì cán bộ tiếp nhận tố cáo phải ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản, người tố cáo phải ký tên, ghi rõ họ tên, địa chỉ và phải chịu trách nhiệm về văn bản đó.
2.2. Không xem xét, giải quyết tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ; tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết, kết luận, nhưng người tố cáo vẫn tiếp tục tố cáo, nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới; tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp.
3. Khi chỉ còn dưới 10 ngày là khai mạc Đại hội hoặc Hội nghị đại biểu của đoàn, nếu cơ quan có thẩm quyền nhận được đơn tố cáo đại biểu chính thức dự đại hội, hội nghị đại biểu thì đơn tố cáo đó chỉ được xem xét sau khi đã tổ chức xong đại hội hoặc hội nghị của Đoàn.
4. Khi nhận được đơn tố cáo, ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn phải thụ lý để giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết. Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết thì ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn có trách nhiệm chuyển đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết.
5. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày kể từ ngày ra thông báo tiếp nhận đơn,thư tố cáo để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày ra thông báo tiếp nhận đơn, thư tố cáo để giải quyết.
6. Cơ quan giải quyết tố cáo, cán bộ được giao giải quyết tố cáo không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đoàn có thẩm quyền cho những tố chức, cá nhân không có trách nhiệm trong việc giải quyết tố cáo. Cấp bộ đoàn, ủy ban kiểm tra các cấp, cán bộ nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo. Không được tiết lộ họ, tên của người tố cáo và các thông tin khác cho người bị tố cáo biết.
7. Tổ chức đoàn và cán bộ đoàn viên bị tố cáo phải trình bày rõ ràng, trung thực, đầy đủ, kịp thời về những vấn đề bị tố cáo khi các tổ chức đoàn có thẩm quyền yêu cầu; tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm (nếu có) và có quyền đưa ra bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo không đúng; không được truy tìm, trấn áp, trù dập, trả thù người tố cáo dưới bất cứ hình thức nào.
8. Cán bộ, cơ quan được giao giải quyết tố cáo khi thực hiện nhiệm vụ có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
+ Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật, đúng Điều lệ Đoàn quy định khi giải quyết tố cáo.
+ Được quyền yêu cầu người tố cáo cung cấp tài liệu, bằng chứng có liên quan đến nội dung tố cáo.
+ Được quyền yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về các nội dung bị tố cáo, các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo không đúng (nếu có).
+ Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan  đến nội dung tố cáo.
+ Tiến hành các biện pháp khác khi cần thiết để phục vụ công tác giải quyết tố cáo (theo quy định của pháp luật).
9. Không phân công cán bộ bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. ủy ban kiểm tra hoặc cấp bộ đoàn giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp bộ  đòan có thẩm quyền xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm minh bằng kỷ luật Đoàn, kỷ luật hành chính hoặc đề nghị cơ quan pháp luật xử lý đúng với mức độ sai phạm những trường hợp trù dập, trả thù người tố cáo, cản trở, không xem xét, giải quyết tố cáo, bao che cho những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ nội dung tố cáo, tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo, người không có trách nhiệm biết.
10. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết phải ghi chép thành văn bản và lưu vào hồ sơ giải quyết tố cáo. Sau khi kết thúc việc thẩm tra, xác minh, người (cơ quan) được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo và phải có đầy đủ bằng chứng cho kết luận của mình.
11. Căn cứ vào kết luận về nội dung tố cáo, cấp giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
+ Trường hợp người bị tố cáo không vi phạm pháp luật, không vi phạm Điều lệ, quy định của Đoàn,...thì phải có kết luận rõ và thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết; đồng thời phải xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiên khắc người lợi dụng tố cáo để vu cáo, đả kích cá nhân, gây chia rẽ mất đoàn kết nội bộ.
+ Trường hợp người bị tố cáo vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ, các quy định của Đoàn,...thì phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của Đoàn và của pháp luật.
+ Trường hợp hành vi của người bị tố cáo có dấu hiệu của tội phạm thì cấp bộ đoàn phải chuyển hồ sơ, vụ việc cho cơ quan pháp luật có thẩm quyền giải quyết.
12. Cơ quan giải quyết tố cáo phải gửi văn bản kết luận giải quyết tố cáo, quyết định xử lý tố cáo cho cơ quan kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp trên trực tiếp; đồng thời có văn bản trả lời người có đơn tố cáo biết kết quả giải quyết.
13. Hồ sơ giải quyết tố cáo được lưu trữ tại cấp có thẩm quyền đã ra quyết định giải quyết tố cáo.
Hồ sơ giải quyết tố cáo gồm:
+ Đơn, thư hoặc bản ghi nội dung tố cáo;
+ Biên bản thẩm tra xác minh và các tài liệu chứng cứ liên quan trong quá trình giải quyết;
+ Văn bản giải trình của người bị tố cáo;
+ Kết luận về nội dung tố cáo; những kiến nghị về biện pháp xử lý;
+ Quyết định xử lý (nếu có);
+ Các loại tài liệu khác có liên quan.
III. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
1. Bước chuẩn bị
- Khi nhận được đơn tố cáo, thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết, cán bộ kiểm tra (cán bộ được phân công) phải nghiên cứu kỹ đơn khiếu nại, tố cáo, tóm tắt nội dung tố cáo, khiếu nại và tham mưu, đề xuất với lãnh đạo ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn hướng giải quyết. Lãnh đạo ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn xem xét cụ thể phân công cán bộ trực tiếp xem xét, tham mưu (nếu vụ việc đơn giản) hoặc thành lập tổ công tác nếu thấy cần thiết.
- Nếu thấy cần thiết phải lập tổ công tác thì ủy ban kiểm tra (hoặc cấp bộ đoàn) ra quyết định thành lập tổ công tác giải quyết, khiếu nại, tố cáo; nội dung gồm: thành phần tổ công tác, nhiệm vụ tổ công tác, thời hạn giải quyết...
- Cán bộ được phân công hoặc tổ công tác được giao giải quyết khiếu nại, tố cáo xây dựng kế hoạch cụ thể giải quyết khiếu nại, tố cáo xây dựng kế hoạch cụ thể giải quyết khiếu nại, tố cáo trình lãnh đạo ủy ban kiểm tra hoặc cấp bộ đoàn có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch, thành lập (đoàn) kiểm tra giải quyết khiếu nại, hoặc tố cáo.
2. Bước tiến hành
2.1. Về giải quyết khiếu nại
Sau khi nghiên cứu đơn, thư khiếu nại cán bộ (tổ công tác) được giao giải quyết khiếu nại cần lưu ý:
- Nếu thấy có dấu hiệu bị xử lý oan, sai hoặc trù dập thì phải xem xét lại toàn bộ quá trình thi hành kỷ luật.
- Nếu thấy việc khiếu nại không có cơ sở, chứng cứ, tình tiết nào có thể làm thay đổi kết luận về nội dung vi phạm hoặc hình thức xử lý thì giải thích cho người khiếu nại biết. Nếu người khiếu nại không đồng ý với nội dung giải thích thì triển khai giải quyết khiếu nại theo trình tự:
+ Làm việc với người khiếu nại, để tìm hiểu kỹ các nội dung và vấn đề liên quan đến khiếu nại.
+ Yêu cầu cấp bộ đoàn ra quyết định kỷ luật giải trình về quá trình xem xét, xử lý kỷ luật và các ý kiến khiếu nại để tìm hiểu về các nội dung, tình tiết dẫn đến việc xử lý kỷ luật. Làm rõ điểm khác nhau giữa nội dung khiếu nại với nội dung của quyết định kỷ luật.
+ Nếu cấp đã ban hành quyết định kỷ luật và cán bộ (tổ kiểm tra) giải quyết khiếu nại còn có ý kiến khác nhau thì cán bộ (tổ kiểm tra) tiếp tục kiểm tra, xác minh làm rõ các nội dung còn chưa thống nhất và báo cáo đầy đủ với ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về các ý kiến khác nhau đó, đồng thời dự thảo báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại và đề xuất hướng giải quyết với ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn có thẩm quyền xem xét, quyết định.
2.2. Về giải quyết tố cáo
Sau khi nghiên cứu đơn tố cáo, cán bộ (tổ công tác) giải quyết tố cáo theo các bước sau:
- Cán bộ (tổ công tác) giải quyết tố cáo làm việc với tổ chức đoàn có liên quan và cán bộ bị tố cáo để thông báo quyết định, nội dung tố cáo; kế hoạch giải quyết; thống nhất lịch trình tiến hành; yêu cầu cán bộ, tổ chức đoàn bị khiếu nại, tố cáo chuẩn bị báo cáo giải trình các nội dung bị tố cáo; yêu cầu cung cấp tài liệu, phối hợp giải quyết.
- Cán bộ (tổ công tác) kiểm tra làm việc với người tố cáo, thu thập tài liệu, chứng cứ.
- Làm việc với các tổ chức, cá nhân có liên quan để thu thập thêm tài liệu liên quan, thẩm tra, xác minh các nội dung tố cáo.
- Sau khi đã thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ; các văn bản giải trình của những người có liên quan, cán bộ (tổ công tác) kiểm tra giải quyết tố cáo phải dự thảo báo cáo kết quả giải quyết tố cáo và đề xuất hướng giải quyết với cơ quan có thẩm quyền.
- Qua giải quyết tố cáo nếu phát hiện cán bộ đoàn, tổ chức đoàn có sai phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật (nêu rõ hình thức kỷ luật).
3. Bước kết thúc
Ủy ban kiểm tra và cấp bộ đoàn cấp nào giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo thì có trách nhiệm:
- Kết luận các nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời thông báo cho cán bộ hoặc tổ chức đoàn bị khiếu nại, tố cáo biết các kết luận đó.
- Có văn bản trả lời người có đơn khiếu nại, tố cáo về kết quả giải quyết cácnội dung khiếu nại, tố cáo.
Kết luận phải thể hiện rõ các nội dung:
- Nội dung khiếu nại, tố cáo đúng, đúng một phần hay sai.
- Kết quả xử lý kỷ luật cán bộ, cấp bộ đoàn bị tố cáo có sai phạm; Trách nhiệm của cán bộ đoàn hay cấp đoàn bị khiếu nại, tố cáo.
- Trường hợp cá nhân, tổ chức tố cáo không đúng, tố cáo sai, thì cần xem xét trách nhiệm của người tố cáo, nếu đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải đề xuất hình thức kỷ luật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền kỷ luật tiến hành xem xét kỷ luật theo quy định.
E. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.Khái niệm giám sát
Giám sát của Đoàn là việc BCH, BTV, Ủy ban kiểm tra và các cơ quan cấp bộ đoàn theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động cấp bộ đoàn, chi đoàn và cán bộ chịu sự giám sát trong việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, quy định, quyết định của Đoàn, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ theo quy định của Đoàn. Đây là việc thường xuyên, liên tục nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn để không xảy ra vi phạm ngay từ lúc manh nha xuất hiện; giúp cho đối tượng được giám sát thực hiện đúng Điều lệ, nghị quyết, nghị định của Đoàn, chức trách nhiệm vụ được giao, quy định về phẩm chất, đạo đức, lối sống
2.Chủ thể của giám sát.
Chủ thể trong hoạt động giám sát của Đoàn gồm có:
- BCH, BTV Đoàn các cấp ( Từ Trung ương đến Đoàn cơ sở)
- Ban Bí thư Trung ương Đoàn
- Ủy ban kiểm tra của đoàn ở Trung ương, tỉnh, huyện.
- Các ban, đơn vị trực thuộc cấp bộ đoàn được BCH, BTV ( Ban Bí thư đối với cấp Trung ương) phân công thực hiện công việc giám sát.
3. Đối tượng được giám sát
Mỗi chủ thể giám sát có phạm vi, đối tượng giám sát theo thẩm quyền, cụ thể:
- BCH, BTV Đoàn các cấp ( Ban Bí thư TW Đoàn) giám sát mọi tổ chức Đoàn cấp dưới, cơ quan do mình bầu, lập ra và cán bộ, đoàn viên theo phân cấp quản lý.
- Ủy ban kiểm tra của Đoàn giám sát ủy viên BCH, cán bộ đoàn cùng cấp, tổ chức Đoàn cấp dưới và cán bộ, đoàn viên.
- Các ban, đơn vị trực thuộc cấp bộ đoàn giám sát trong lĩnh vực, đối tượng được phân công phụ trách.
4. Nguyên tắc giám sát.
- Mọi tổ chức của Đoàn, cán bộ, đoàn viên đều phải chịu sự giám sát của Đoàn.
- Thông thường, các cấp bộ đoàn, ủy ban kiểm tra ở các cấp chịu trách nhiệm giám sát đối với cấp bộ Đoàn, tổ chức Đoàn là cấp dưới trực tiếp và cán bộ trong phạm vi quản lý; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo công tác giám sát của tổ chức Đoàn cấp dưới, trường hợp thật cần thiết, cấp bộ đoàn, ủy ban kiểm tra cấp trên có thể chọn đơn vị thuộc cấp dưới trực tiếp để giám sát.
- Trong hoạt động giám sát phải đảm bảo chịu sự lãnh đạo của cấp bộ đoàn; đảm bảo quá trình giám sát không làm cản trở công việc và hoạt động bình thường của cấp bộ đoàn, chi đoàn, cán bộ của Đoàn chịu sự giám sát.
II. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA BAN CHẤP HÀNH, BAN THƯỜNG VỤ ĐOÀN CÁC CẤP.
1.Đối tượng giám sát
1.1.Đối tượng giám sát của BCH Đoàn
- Cấp bộ Đoàn cấp dưới trực tiếp
- Các cơ quan do BCH bầu hoặc quyết định lập ra (BTV, Ủy ban kiểm tra, Hội đồng Đội…)
- Cán bộ đoàn thuộc chức danh do BCH cấp mình bầu ( Bí thư, Phó Bí thư, ủy viên BTV…)
1.2 Đối tượng giám sát của BTV Đoàn.
-  Cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp
- Các cơ quan, chức danh do BCH Đoàn cùng cấp bầu hoặc quyết định lập ra và ủy quyền cho BTV thực hiện việc giám sát trong quá trình hoạt động ( việc ủy quyền này có thể nêu trong quy chế, quy định về lề lối làm việc của BCH hoặc ủy quyền trực tiếp).
- Các cơ quan, chức danh do BTV đoàn lập ra, bổ nhiệm hoặc phê chuẩn.
2. Nội dung giám sát
2.1 Nội dung giám sát đối với cơ quan do BCH, BTV bầu ra hoặc quyết định lập ra.
- Việc chấp hành Điều lệ và các quy định của Đoàn.
- Việc thực hiện nghị quyết, kết luận, chỉ thị, văn bản chỉ đạo khác của BCH, BTV Đoàn cùng cấp.
2.2 Nội dung giám sát đối với cấp bộ đoàn cấp dưới, chi đoàn
- Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ chương công tác của Đoàn.
- Việc chấp hành Điều lệ và các quy định của tổ chức Đoàn.
2.3 Nội dung giám sát đối với cán bộ.
- Việc chấp hành Điều lệ Đoàn, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đoàn.
- Việc thực hiện các tiêu chuẩn cán bộ theo quy định của Đảng, Nhà nước và của Đoàn.
- Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, giữ gìn phẩm chất đạo đức lối sống.
3. Phương pháp tiến hành
BCH, BTV đoàn tiến hành giám sát theo hai cách: Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề.
Giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp, Giám sát thường xuyên không lập đoàn (tổ) giám sát. Giám sát theo chuyên đề có lập đoàn hoặc tổ giám sát.
3.1. Giám sát thường xuyên
3.1.1 Giám sát trực tiếp
3.1.1.1  BCH, BTV giám sát cấp bộ đoàn cấp dưới
a. BCH, BTV thông báo việc phân công văn phòng và các ban tham mưu (cấp huyện phân công cán bộ) của cấp bộ đoàn cấp mình thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với cấp bộ đoàn cấp dưới và thông báo cho đối tượng giám sát được biết. Văn phòng, các ban tham mưu thực hiện giám sát bằng việc cử cán bộ giám sát dự các cuộc họp của cấp bộ đoàn cấp dưới.
- Cán bộ giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát như sau:
+ Nghiên cứu báo cáo, tài liệu liên quan phục vụ việc giám sát.
+ Theo dõi việc thảo luận, kết luận: Trao đổi, tìm hiểu về những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát và phát biểu ý kiến (nếu thấy cần thiết)
+ Phát hiện vấn đề theo nghiên cứu báo cáo và thảo luận tại các cuộc hợp. Trường hợp cần thiết đề nghị tổ chức Đoàn cấp dưới cung cấp thêm tài liệu có liên quan phục vụ giám sát.
+ Góp ý kiến với cấp bộ đoàn cấp dưới được giám sát theo thẩm quyền.
+ Báo cáo đơn vị giám sát theo phân công của cấp bộ đoàn cấp huyện thì cán bộ giám sát báo cáo với BTV, BCH ( Cơ quan có thẩm quyền giám sát) để xem xét đánh giá, yêu cầu cán bộ đoàn cấp dưới về những vấn đề cần thiết.
- Đơn vị giám sát báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét đánh giá, yêu cầu đối với cấp bộ đoàn cấp dưới về những vấn đề cần thiết. Nội dung này chỉ có trong trường hợp giám sát theo phân công của cấp bộ đoàn cấp tỉnh và Trung ương.
- Cấp bộ đoàn cấp dưới thực hiện kết luận giám sát.
- Cán bộ giám sát theo dõi cấp bộ đoàn chịu sự giám sát thực hiện kết luận giám sát và báo cáo kết quả thực hiện với chủ thể giám sát.
- Lập và lưu trữ hồ sơ giám sát.
b. BCH, BTV giám sát cấp bộ  đoàn cấp dưới thông qua làm việc trực tiếp với cấp bộ đoàn cấp dưới, cụ thể:
- Theo dõi chương trình công tác hoặc đột xuất, BCH, BTV trực tiếp hoặc tổ chức đoàn công tác nghe cấp bộ đoàn cấp dưới báo cáo tình hình, kết quả hoạt động, công tác đoàn của cấp dưới.
- Các thành viên Hội nghị trao đổi thảo luận, nghe cấp bộ đoàn chịu sự giám sát trả lời các yêu cầu của BCH (BTV) cấp trên.
- BCH (BTV) là chủ thể giám sát kết luận Hội nghị.
- Cấp bộ đoàn cấp dưới thực hiện kết luận giám sát và báo cáo kết quả thực hiện với chủ thể giám sát.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
3.1.1.2 BCH, BTV Đoàn cơ sở giám sát chi đoàn cấp dưới.
BCH, BTV đoàn cơ sở giám sát chi đoàn cấp dưới thông qua làm việc trực tiếp với chi đoàn, cụ thể:
- Theo chương trình công tác hoặc đột xuất, BCH, BTV làm việc với chi đoàn để nghe báo cáo tình hình, kết quả hoạt động, công tác của chi đoàn.
- Các thành viên tham dự hội nghị thực hiện trao đổi thảo luận, nghe chi đoàn chịu sự giám sát trả lời các yêu cầu của BCH (BTV) cấp trên.
- BCH, BTV là chủ thể giám sát kết luận Hội nghị
- Chi đoàn cấp dưới thực hiện kết luận giám sát và báo cáo kết quả thực hiện với chủ thể giám sát.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
3.1.2 Giám sát gián tiếp.
BCH, BTV đoàn cấp tỉnh và Trung ương giám sát gián tiếp với cán bộ đoàn cấp dưới trực tiếp và cán bộ thông qua việc giao cho văn phòng và các ban tham mưu giám sát ( sau đây gọi tắt là đơn vị giám sát) theo trình tự như sau:
- Đơn vị giám sát cử cán bộ theo dõi, nắm tình hình:
+ Kết quả thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao; tự phê bình và phê bình của cán bộ; về phẩm chất đạo đức lối sống của cán bộ.
+ Xem xét các tài liệu, văn bản báo cáo của cấp dưới để nghiên cứu, phát hiện vấn đề liên quan đến nội dung giám sát.
+ Tình hình dư luận, phản ánh của quần chúng nhân dân và đoàn viên thanh niên; thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng; thông tin phản ánh, trao đổi của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan của Đảng và các đoàn thể khác; xem xét xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định.
- Đơn vị giám sát định kỳ 6 tháng hoặc đột xuất có báo cáo kết quả, kiến nghị (nếu có) giám sát với cấp bộ đoàn phân công giám sát.
- Cấp bộ đoàn là chủ thể giám sát xem xét báo cáo của đơn vị giám sát, thông báo văn bản kết quả giám sát, yêu cầu giám sát đến đối tượng chịu sự giám sát.
- Đơn vị giám sát theo dõi cấp bộ đoàn cấp dưới hoặc cán bộ chịu sự giám sát thực hiện yêu cầu của BCH, BTV.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
3.2 Giám sát theo chuyên đề
- Hàng năm BCH và BTV đoàn các cấp lựa chọn chuyên đề để xây dựng kế hoạch giám sát cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp và cán bộ của đoàn; thông báo cho đối tượng giám sát về nội dung, đối tượng, thời gian giám sát.
- Quyết định thành lập đoàn hoặc tổ giám sát ( sau đây gọi tắt là đoàn giám sát); phân công nhiệm vụ cho thành viên trong đoàn giám sát.
- Gửi văn bản yêu cầu đối tượng giám sát chuẩn bị và báo cáo, tài liệu phục vụ giám sát.
- Đoàn giám sát tiến hành giám sát: yêu cầu cấp bộ đoàn cấp dưới tổ chức cuộc họp để tổ hoặc đoàn giám sát nghe báo cáo giải trình và trao đổi thảo luận về các nội dung giám sát.
- Đoàn giám sát báo cáo bằng văn bản với BCH, BTV xem xét, đánh giá và thông báo bằng văn bản về kết quả giám sát, yêu cầu giám sát.
- Đoàn giám sát theo dõi đối tượng giám sát thực hiện yêu cầu giám sát của cấp bộ đoàn.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
4. Trách nhiệm, quyền hạn của BCH, BTV, đoàn giám sát và cán bộ giám sát.
4.1 Trách nhiệm và quyền hạn của BCH, BTV đoàn, đoàn giám sát.
- BCH, BTV cấp trên phân công cán bộ giám sát dự các cuộc họp, các hội nghị của cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp.
- Đoàn giám sát khi thực hiện giám sát yêu cầu tổ chức, cá nhân là đối tượng giám sát và các tổ chức cá nhân liên quan cung cấp thông tin, văn bản, tài liệu hoặc báo cáo những nội dung theo yêu cầu giám sát.
- Đoàn giám sát có trách nhiệm báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản đối với cấp bộ đoàn phân công, chịu trách nhiệm về việc giám sát của mình trước tổ chức; giữ bí mật nội dung thông tin, văn bản, tài liệu được cung cấp phục vụ việc giám sát; trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát nếu phát hiện vấn đề quan trọng đột xuất, cần kịp thời báo cáo cấp bộ đoàn được phân công để xin ý kiến giải quyết.
- Qua giám sát đối với cán bộ đoàn cấp dưới và cán bộ, định kỳ hàng năm BCH, BTV cấp trên nhận xét, đánh giá bằng văn bản về ưu, khuyết điểm, vi phạm của đối tượng giám sát (nếu có), nguyên nhân và các yêu cầu thực hiện trong công tác.
- Nếu phát hiện đối tượng giám sát không thực hiện, thực hiện không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, cấp bộ đoàn cấp trên và của cấp mình thì có quyền yêu cầu đối tượng giám sát khắc phục sửa chữa; nếu không khắc phục sửa chữa thì xem xét xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định.
- Nếu phát hiện đối tượng giám sát có dấu hiệu vi phạm thì BCH, BTV giao cho ủy viên Ban kiểm tra tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm.
- BCH, BTV, đoàn giám sát ở các cấp nếu có sai phạm trong thực hiện nhiệm vụ giám sát thì bị xử lý trách nhiệm theo quy định của Đoàn và pháp luật của Nhà nước.
4.2  Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ giám sát.
- Cán bộ giám sát khi thực hiện nhiệm vụ giám sát được yêu cầu đoàn cấp dưới, các đơn vị có liên quan và cán bộ, đoàn viên cùng cấp thông tin, văn bản, tài liệu hoặc báo cáo về những nội dung theo yêu cầu giám sát. Cán bộ giám sát được chất vấn BCH, BTV, thường trực cấp bộ đoàn, ủy viên BCH, cán bộ của đoàn chịu sự giám sát về những vấn đề có liên quan bằng văn bản hoặc trực tiếp.
- Cán bộ giám sát khi thực hiện giám sát theo sự phân công, nếu phát hiện cấp bộ đoàn cấp dưới và cán bộ thuộc đối tượng có khuyết điểm, sai phạm phải kịp thời nhắc nhở và báo cáo với cơ quan phân công thực hiện nhiệm vụ giám sát. Nếu phát hiện cấp dưới ban hành quyết định không đúng, cán bộ chịu sự giám sát có việc làm sai trái thì được quyền yêu cầu ngừng việc ban hành, ngừng thực hiện và báo cáo ngay với cấp bộ đoàn phân công thực hiện nhiệm vụ giám sát.
- Định kỳ hoặc khi được yêu cầu cán bộ giám sát ó trách nhiệm báo cáo kết quả giám sát với cấp bộ đoàn phân công giám sát để nắm tình hình, có biện pháo lãnh đạo, chỉ đạo.
- Cán  bộ giám sát phải chịu trách nhiệm trước tổ chức cấp mình về những nội dung thông tin, báo cáo nhận xét của mình liên quan đến đối tượng chịu sự giám sát và giữ bí mật về nội dung các văn bản, thông tin về việc giám sát.
- Nếu có vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ giám sát thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của Đoàn.
5. Trách nhiệm và quyền hạn của đối tượng giám sát.
5.1 Trách nhiệm
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về giám sát.
- Thông báo cho chủ thể giám sát về nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần, các cuộc họp, hội nghị của tổ chức mình; gửi báo cáo, tài liệu, các văn bản của hội nghị có liên quan đến các nội dung giám sát cho chủ thể giám sát biết để phục vụ theo dõi, giám sát.
- Cung cấp đầy đủ tài liệu, văn bản phục vụ công tác giám sát.
- Chấp hành yêu cầu của cấp bộ đoàn có thẩm quyền hoặc chủ thể giám sát và quyết định của cấp bộ đoàn cóhẩm quyền.
- Báo cáo, trao đổi về các vấn đề do chủ thể giám sát đưa ra ( khi có yêu cầu của chủ thể giám sát.
5.2 Quyền
- Được đề nghị chủ thể giám sát xem xét lại nội dung nhận xét, đánh giá, yêu cầu, quyết định đối với mình nếu thấy đó là những nội dung chưa chính xác, không đúng hoặc chưa thỏa đáng và được đưa ra bằng chứng để chứng minh về những nội dung đó.
-  Được quyền báo cáo với cấp bộ đoàn cấp trên của chủ thể giám sát nếu thấy việc thực hiện giám sát không đúng nội dung, yêu cầu, trách nhiệm, quyền hạn của chủ thể giám sát hoặc cán bộ thực hiện nhiệm vụ giám sát.
III. CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA ĐOÀN CÁC CẤP
Ủy ban kiểm tra thực hiện nhiệm vụ giám sát cán bộ đoàn ( kể cả ủy viên BCH cùng cấp) và cán bộ đoàn cấp dưới theo quy định của Điều lệ Đoàn và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn.
1.Đối tượng giám sát
Đối tượng giám sát của Ủy ban kiểm tra gồm:
- Ủy viên BCH, cán bộ đoàn cùng cấp
- Cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp.
2. Nội dung giám sát
2.1 Nội dung giám sát đối với cấp bộ đoàn cấp dưới, chi đoàn
- Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương công tác của Đoàn.
- Việc chấp hành Điều lệ và các quy định của tổ chức đoàn.
2.2 Nội dung giám sát đối với cán bộ đoàn.
- Việc chấp hành Điều lệ Đoàn, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đoàn.
- Việc thực hiện các tiêu chuẩn cán bộ theo quy định của Đảng, Nhà nước và của Đoàn.
- Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống.
3. Phương pháp tiến hành.
Giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp đối với cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp và cán bộ đoàn của đoàn được tiến hành theo hai cánh: Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề.
Giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp. Giám sát thường xuyên không lập tổ (hoặc đoàn) giám sát ( sau đây gọi tắt là đoàn giám sát). Giám sát chuyên đề có lập đoàn giám sát.
 
3.1 Giám sát thường xuyên
Ủy ban kiểm tra thông báo việc phân công ủy viên ủy ban, cán bộ, chuyên viên theo dõi lĩnh vực, đối tượng cho đối tượng được giám sát BIẾT.
3.1.1 Giám sát trực tiếp
Giám sát thông qua việc giao cho thành viên ủy ban kiểm tra dự các cuộc họp của BCH cùng cấp, cụ thể:
- Tại các kỳ họp ủy viên ủy ban kiểm tra nghiên cứu các báo cáo, các văn bản hội nghị, theo dõi việc thảo luận, kết luận, việc chấp hành quy chế làm việc tại các cuộc họp của BCH, của các ủy viên ủy ban kiểm tra.
- Phát hiện vấn đề qua việc xem xét các văn bản và các ý kiến thảo luận tại các cuộc họp của BCH và báo cáo với ủy ban kiểm tra kết quả giám sát bằng văn bản.
- Ủy ban kiểm tra thảo luận, thống nhất về báo cáo giám sát, sau đó báo cáo BCH ý kiến của ủy ban kiểm tra về kết quả giám sát, đề xuất kiến nghị (nếu có)
- Lập và lưu trữ hồ sơ giám sát.
3.1.2 Giám sát gián tiếp
Ủy ban kiểm tra giám sát gián tiếp đối với cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp và cán bộ ( thông qua cán bộ được phân công giám sát) cụ thể như sau:
- Nghiên cứu các tài liệu, văn bản của văn phòng, các ban đơn vị cùng cấp, của cấp bộ đoàn cấp dưới; nắm tình hình qua phản ánh của quần chúng nhân dân và đoàn viên thanh niên; thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng; thông tin phản ánh, trao đổi của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan của Đảng và đoàn thể khác; thông qua việc xem xét xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; Xem xét kết quả tự phê bình của cán bộ giám sát để phát hiện vấn đề phục vụ giám sát. Khi thấy cần thiết, cán bộ giám sát có thể trao đổi với cấp bộ đoàn, đơn vị, cán bộ được giám sát và tổ chức, cá nhân có liên quan để tìm hiểu làm rõ những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát.
- Cán bộ giám sát báo cáo kết quả giám sát với ủy ban kiểm tra cấp mình (thông qua thường trực ủy ban kiểm tra). Trong quá trình giám sát, khi phát hiện có vấn đề cần thiết, cán bộ giám sát có thể trao đổi trực tiếp hoặc báo cáo thường trực ủy ban kiểm tra cấp mình để có ý kiẾn, hoặc báo cáo cấp bộ đoàn cấp mình yêu cầu đình chỉ các việc làm không đúng, khắc phục các khuyết điểm, sai sót (nếu có) của cấp bộ đoàn, cán bộ chịu sự giám sát.
- Ủy ban kiểm tra có văn bản yêu cầu cấp bộ đoàn, cán bộ chịu sự giám sát thực hiện những vấn đề cần thiết liên quan đến nội dung giám sát theo kết luận của ủy ban kiểm tra, của cấp bộ đoàn cấp mình.
- Cán bộ giám sát theo dõi việc thực hiện yêu cầu của ủy ban kiểm tra, cấp bộ đoàn cấp mình đối với cấp bộ đoàn, cán bộ chịu sự giám sát và báo cáo kết quả thực hiện với thường trực ủy ban kiểm tra.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
3.2 Giám sát theo chuyên đề.
Ủy ban kiểm tra thực hiện giám sát chuyên đề theo trình tự như sau:
- Hàng năm, ủy ban kiểm tra xây dựng kế hoạch giám sát và thông báo cho đối tượng được giám sát biết.
- Quyết định thành lập đoàn giám sát; phân công nhiệm vụ cho thành viên trong đoàn giám sát.
- Yêu cầu đối tượng giám sát chuẩn bị báo cáo
- Đoàn giám sát tiến hành giám sát
- Đoàn giám sát báo cáo bằng văn bản với ủy ban kiểm tra cấp mình về kết quả giám sát.
- Ủy ban kiểm tra xem xét, đánh giá, thông báo bằng văn bản về kết quả giám sát. Nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm thì báo cáo và đề xuất với cấp bộ đoàn cấp mình giao ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm và báo cáo kết quả để BCH, BTV xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
- Cán bộ được phân công giám sát theo dõi việc cấp bộ đoàn cấp dưới trực tiếp và cán bộ chịu sự giám sát thực hiện thông báo kết quả giám sát của ủy ban kiểm tra và yêu cầu của cấp bộ đoàn cấp mình ( nếu có) và báo cáo kết quả thực hiện với thường trực ủy ban kiểm tra.
- Lập và lưu hồ sơ giám sát.
4.Trách nhiệm, quyền hạn của ủy ban kiểm tra, đoàn giám sát và cán bộ được phân công thực hiện nhiệm vụ giám sát.
4.1 Trách nhiệm, quyền hạn của ủy ban kiểm tra, đoàn giám sát.
- Được cử thành viên của ủy ban, cán bộ giám sát dự các cuộc họp của cấp bộ đoàn cấp dưới (nếu thấy cần thiết); ủy viên ủy ban kiểm tra được dự các cuộc họp của BCH đoàn cùng cấp.
- Khi thực hiện giám sát, ủy ban kiểm tra, đoàn giám sát được chất vấn, yêu cầu cấp bộ đoàn cấp dưới, cán bộ, đoàn viên trả lời về các vấn đề liên quan đến nội dung giám sát bằng văn bản; nhận xét, đánh giá về nội dung giám sát đối với đối tượng giám sát.
- Qua giám sát, ủy ban kiểm tra phải kiến nghị ủy viên BCH đoàn cấp mình, cấp bộ đoàn cấp dưới và cán bộ chịu sự giám sát phát huy ưu điểm; sửa chữa, khắc phục khuyết điểm (nếu có).
Trường hợp phát hiện cấp bộ đoàn cấp dưới ban hành nghị quyết, quy định không đúng với chủ trương của Đảng, của Đoàn, chính sách pháp luật của Nhà nước thì ủy ban kiểm tra báo cáo cấp bộ đoàn cấp mình xem xét, yêu cầu cấp bộ đoàn cấp dưới sửa chữa, Nếu phát hiện cấp bộ đoàn cấp dưới hoặc cán bộ chịu sự giám sát có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo cấp bộ đoàn cấp mình để tiến hành tổ chức kiểm tra dấu hiệu vi phạm. Nếu phát hiện văn bản, chủ trương của cấp trên không thực hiện được hoặc có những điểm không còn phù hợp với điều kiện thực tế thì báo cáo cấp bộ đoàn có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp.
- Ủy ban kiểm tra chịu trách nhiệm trước cấp bộ đoàn cấp mình về kết quả thực hiện nhiệm vụ giám sát được giao.
4.2 Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ giám sát.
- Thành viên ủy ban kiểm tra các cấp được tham dự các cuộc họp của BCH Đoàn cùng cấp.
- Cán bộ giám sát được tham dự các cuộc họp thường kỳ, đột xuất của cấp bộ đoàn cấp dưới; được quyền yêu cầu cấp bộ đoàn cấp dưới, cán bộ đoàn viên có liên quan giải trình, cung cấp văn bản, tài liệu báo cáo về các vấn đề thuộc nội dung giám sát được giao, đồng thời phải có trách nhiệm bảo mật các tài liệu, văn bản được cung cấp.
- Cán bộ giám sát chịu trách nhiệm báo cáo về thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình với ủy ban kiểm tra cấp mình. Qua giám sát, nếu phát hiện cấp bộ đoàn cấp dưới ban hành các nghị quyết, chủ trương không đúng với chủ trương, nghị quyết của đoàn cấp trên thì cán bộ giám sát được quyền nhắc nhở và có trách nhiệm báo cáo lại với ủy ban kiểm tra cấp mình. Nếu phát hiện tổ chức đoàn cấp dưới có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo ủy ban kiểm tra để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
- Cán bộ giám sát nếu có sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thì tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của Đoàn và pháp luật của Nhà nước.
4.3 Trách nhiệm, quyền của cấp bộ đoàn và cán bộ đoàn chịu sự giám sát.
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về giám sát của đoàn, quyết định của cấp bộ Đoàn, ủy ban kiểm tra có thẩm quyền giám sát.
- Thông báo cho chủ thể giám sát biết về nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần các cuộc họp, hội nghị của cấp bộ đoàn cấp mình tổ chức. Đồng thời, cung cấp các văn bản, tài liệu hội nghị có liên quan cho ủy ban kiểm tra và cán bộ thực hiện nhiệm vụ giám sát để phục vụ công tác giám sát.
- Cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến nội dung giám sát cho chủ thể giám sát và cán bộ được phân công thực hiện nhiệm vụ giám sát.
- Báo cáo, trao đổi về các vấn đề liên quan đến nội dung giám sát khi có yêu cầu của ủy ban kiểm tra hoặc cán bộ giám sát.
- Chấp hành yêu cầu của chủ thể giám sát và cấp bộ đoàn có thẩm quyền; không được gây khó khăn, từ chối yêu cầu giám sát của cấp bộ đoàn có thẩm quyền.
- Được đưa ra các bằng chứng để chứng minh về các nội dung được giám sát đối với mình nếu thấy đó là những nội dung chưa chính xác, không đúng hoặc chưa thỏa đáng và được đưa ra bằng chứng để chứng minh về những nội dung đó.
- Được quyền báo cáo với cấp bộ đoàn cấp trên của chủ thể giám sát nếu thấy việc thực hiện giám sát không đúng với nội dung, yêu cầu, trách nhiệm, quyền hạn của chủ thể giám sát hoặc cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ giám sát.
 
 

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Văn bản mới

Số: 24 - HD/TWH

HƯỚNG DẪN Tổ chức Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019 - 2024

Thời gian đăng: 18/12/2018

lượt xem: 1315 | lượt tải:696

CV 35 - UBH

Công văn củng cố, kiện toàn chức danh Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam cấp xã, thị trấn

Thời gian đăng: 06/11/2018

lượt xem: 205 | lượt tải:276

Số 72-KH/HĐTN

kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Pháp luật hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam

Thời gian đăng: 06/11/2018

lượt xem: 174 | lượt tải:54

Số 85-CV/HĐTN

Công văn triển khai nhiệm vụ tham gia phòng chống lụt bão năm 2018

Thời gian đăng: 06/11/2018

lượt xem: 166 | lượt tải:0

25-KH/UBH

Kê hoạch Đại hội Hội LHTN Việt Nam các cấp, nhiệm kỳ 2019-2024

Thời gian đăng: 22/10/2018

lượt xem: 1099 | lượt tải:345
Liên kết
Tw đoàn
HCM
Qnam
Thánh gióng
Quân sự

Website mới của tuổi trẻ Thăng Bình thế nào?

Trái chạy dọc
Phải chạy dọc